Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

CÔNG DỤNG KỲ DIỆU CỦA CÂY CÚC TẦN


Cây nhỏ cao 2-3m, cành gầy; lá gần giống hình bầu dục, hơi nhọn đầu, gốc thuôn dài, mép lá có răng cưa, mặt dưới có lông mịn, phiến dài 4-5cm, rộng 1-2,5cm. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô, làm thuốc.

CÔNG DỤNG KỲ DIỆU CỦA CÂY CÚC TẦN
Hoa cúc tần
Trong toàn cây chủ yếu có tinh dầu mùi thơm đặc trưng. Theo y học cổ truyền: cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Chủ trị cảm sốt ho, bụng trướng, nôn oẹ, tiêu độc, tiêu đờm, bí tiểu tiện, phong thấp, đau mỏi lưng. Dùng dưới dạng thuốc sắc (ngày uống 10-20g) hay thuốc xông. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chữa nhức đầu cảm sốt: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 8-10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông.

Cũng có nơi nhân dân dùng lá cúc tần phối hợp với lá bàng (có tính mát) và lá hương nhu, sắc uống có công dụng chữa cảm sốt.

Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.

Chữa chấn thương, bầm giập: Lấy lá cúc tần giã nát nhuyễn đắp vào chỗ chấn thương sẽ mau lành.

Tác giả: BS.Vũ Nguyên Khiết
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

VÌ SAO BẠN BỊ RỤNG TÓC

em là sinh viên 20 tuổi .khoang 1 tháng rồi em bị rung tóc rất nhiều khoảng 15-20 cọng /ngày . tóc rụng không có phần thịt . ra hỏi người bán thuốc bảo bị thiếu vitamin b5 và biotin và cho thuốc bao uống trong 2 tháng , không gội đầu bằng dầu gội đầu mà bằng chanh . bác sĩ cho em hỏi em có đúng bị rụng tóc hay bị nấm da đầu .trị như thuốc cọ đúng không

(nguyễn thành trung)

VÌ SAO BẠN BỊ RỤNG TÓC
Ảnh minh họa

Trả lời: 

Có rất nhiều nguyên nhân gây rụng tóc

Nguyên nhân đầu tiên gây rụng tóc là sử dụng dầu gội không đúng loại tóc. Thị trường hiện nay có hàng chục chủng loại dầu gội đầu của nhiều hãng trên thế giới nhưng hầu như chỉ có một loại chung nhất là dầu gội cho tóc bình thường. Trong khi đó có nhiều loại tóc khác nhau như tóc khô, cứng, ướt, nhờn, chưa kể tóc có kèm theo bệnh lý. Bác sĩ Hoàng Anh cho biết có không ít dầu gội kèm thuốc kháng sinh, dùng dầu này tóc bị rối hoặc bện lại sau khi gội.

Tóc cũng có thể bị rụng do dùng bàn chải hoặc lược chải quá mạnh, nhất là khi tóc bị ướt và bị rối. Uốn tóc thường xuyên, tẩy màu tóc, sấy khô tóc có thể làm thay đổi cấu trúc của tóc. Các hóa chất nhuộm, uốn... thường chứa chất làm cháy nang tóc dẫn đến hiện tượng rụng tóc.

Ngoài ra, rụng tóc còn xảy ra sau một đợt sốt cao (do nhiễm trùng, nhiễm siêu vi...), sau phẫu thuật, xuất huyết cấp hoặc sau khi điều trị ung thư bằng hóa chất; rụng tóc ở phụ nữ sau sinh, do stress, dinh dưỡng kém (thiếu sắt, protein, ăn kiêng...).

Sử dụng dầu gội hoặc thuốc nhuộm tóc không thích hợp cũng gây ra rụng tóc. Thông thường tóc bắt đầu rụng 2 tháng sau những biến động tâm lý hoặc thể chất. Tuy nhiên, đây là điều không đáng lo vì hầu hết tóc sẽ mọc lại sau khi tình trạng sức khỏe được phục hồi.

Nữ giới thường rụng tóc nhiều hơn nam giới do dị ứng với các loại mỹ phẩm hoặc do thường xuyên “uốn, duỗi, sấy, nhuộm”. Tình trạng rụng tóc từng mảng ở nữ giới cũng thường liên quan đến sự tăng hoặc giảm nội tiết tố nam trong máu. Do ảnh hưởng của nội tiết tố mà chu kỳ phát triển của tóc bị giảm sút, chân tóc bị teo lại, không nâng nổi sợi tóc bình thường, gây rụng tóc. Sau đó, các sợi tóc mảnh hơn tiếp tục mọc lên ngày càng nhiều, những sợi tóc khỏe, cứng ngày càng giảm. Y học gọi đây là chứng rụng tóc do nam tính hóa, lâu dài sẽ gây hiện tượng thưa tóc.

Còn ở nam giới, tình trạng rụng tóc xảy ra do androgen và yếu tố di truyền (hoặc rụng tóc da nhờn) dẫn đến hói đầu. Tình trạng diễn tiến từ từ, sau tuổi dậy thì, thường bắt đầu từ tuổi 20 - 30. Khi cơ thể nam giới tiết nhiều androgen, khả năng tổng hợp protein của tóc giảm đi, làm tóc thay đổi tăng trưởng, khiến tóc rụng nhanh.

Những lưu ý để phòng ngừa rụng tóc

Đối với những người có cơ địa dị ứng, không nên lạm dụng việc sử dụng hóa chất uốn, nhuộm thường xuyên vì dễ làm tóc rụng theo từng mảng. Không nên lạm dụng loại dầu “2 trong 1” hay “3 trong 1”...

Ngoài ra cũng cần chú ý đến kỹ thuật gội đầu. Phải dùng ngón tay xoa nhẹ da đầu để làm sạch da, chứ không nên dùng móng tay cào quá mạnh trên da đầu. Không gội bằng nước quá lạnh hoặc quá nóng mà nên dùng nước ấm.

Trong khi gội đầu, da đầu bị chà xát và ướt làm phần chân tóc trở nên yếu đi, vì vậy sau đó nếu chải đầu quá mạnh dễ làm tóc rụng. Tốt nhất là hong tóc hoặc sấy tóc cho thật khô rồi mới chải đầu. Để hạn chế rụng tóc, cũng không nên tết tóc hoặc búi quá chặt làm căng chân tóc nhiều lần và mạnh khiến tóc dễ bị rụng. Không nên dùng lược quá cứng, không nên chải tóc quá nhiều lần trong ngày.

Để xác định chính xác nguyên nhân gây rụng tóc của bạn, bạn cần đi khám tại Viện Da liễu Trung ương. Tại đây các bác sĩ sẽ khám và điều trị cho bạn hiệu quả nhất. Bạn không nên tự ý sử dụng bất kỳ loại thuốc nào khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Chúc bạn sức khoẻ.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

CÓ NHIỀU CÁCH GIẢM BÉO PHÌ

Béo phì được phân ra hai loại chính: Béo phì đơn thuần (simple obesity) và béo phì bệnh lý (pathological obesity). Béo phì thông thường chủ yếu do năng lượng hấp thụ vào cơ thể vượt quá mức năng lượng tiêu hao gây nên.

CÓ NHIỀU CÁCH GIẢM BÉO PHÌ
Ăn quá nhiều, thừa chất dẫn đến béo phì
Thông thường, khi chỉ số BMI vượt quá 30, đã loại trừ béo phì do một số bệnh nội tiết như Hội chứng Cushing (lượng hoóc môn cortisosteroid trong cơ thể quá cao), suy tuyến giáp trạng, buồng trứng đa nang... thì đó là béo phì đơn thuần.

Ngoài ra, bệnh còn được chia thành béo phì thể chất (do di truyền) và béo phì mắc phải (do sinh hoạt và ăn uống không hợp lý).

Trong Đông y, béo phì đơn thuần, mắc phải thuộc phạm vi của các chứng đàm ẩm, thủy thũng và hư lao. Béo phì là chứng bệnh thuộc loại hình "gốc hư ngọn thực", nghĩa là người to béo trong khi cơ thể suy yếu, hoạt động của tạng phủ bị rối loạn. Nguyên nhân thường là: chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứ đọng; dạ dày nóng, chức năng tiêu hóa hấp thụ suy yếu; âm dương mất cân bằng.

Thực tế lâm sàng cho thấy, để chữa khỏi chứng bệnh béo phì, đối với mỗi người cần có phép chữa và bài thuốc thích hợp. Không thể sử dụng một loại thuốc giảm béo cho tất cả mọi người.

Những người béo phì đơn thuần, mắc phải có thể căn cứ vào những biểu hiện của bản thân mà chọn dùng một trong các bài thuốc dưới đây:

Bổ khí hóa đàm thang

Phòng kỷ, bạch truật, sơn tra (sao cháy), đẳng sâm mỗi thứ 12 g; hoàng kỳ, phục linh mỗi thứ 15 g; trư linh, bán hạ, lá sen mỗi thứ 9 g, trần bì 6 g. Nấu với 1.500 ml nước, còn 600 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục 20 ngày, nghỉ 5 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác. Thường sau 1 liệu trình bắt đầu có chuyển biến.

Bài thuốc này dùng cho người béo phì thuộc loại hình “Khí hư đàm tích” (chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứ đọng). Thể bệnh này hay gặp ở sau độ tuổi trung niên, chức năng tiêu hóa và hô hấp đã suy giảm, khiến cho “đàm trọc” (sản vật bệnh lý, mỡ dư thừa) tích đọng lại, thành ra béo phì.

Biểu hiện: Người béo phì, hễ hoạt động là thở hụt hơi, vã mồ hôi, da nhợt nhạt, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, thích ngủ, kém ăn, bụng ngực trướng đầy, đại tiện phân nhão hoặc tiêu chảy, thân thể nặng nề hoặc phù thũng; chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng.

Lợi thấp hóa đàm thang

Trần bì (vỏ quít để lâu ngày) 10 g, bán hạ 8 g, phục linh 16 g, xương bồ 8 g, viễn chí 6 g, trạch tả 12 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 20 g. Sắc uống thay nước trong ngày, liên tục 20 ngày, nghỉ 5 ngày lại tiếp tục liệu trình khác.

Bài thuốc áp dụng cho trường hợp béo phì thuộc loại hình “Đàm nhiệt tích trệ”, hay gặp ở những người ăn nhiều đồ béo ngọt, uống nhiều rượu.
Biểu hiện: Thân hình to béo, người nặng nề đuối sức, có thể kèm theo đầu choáng, mắt hoa, ngực đầy tức, ngột ngạt khó chịu; phụ nữ bế kinh hoặc không thụ thai được, rêu lưỡi nhớt hoặc vàng nhớt. 

Thanh vị thông phủ thang

Đại hoàng, bán hạ, thần khúc mỗi thứ 8 g; chỉ thực, trạch tả, sơn tra mỗi thứ 12 g; mạch nha 10 g, phục linh 16 g, kê nội kim 6 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng trừ hỏa nhiệt ở phủ vị - dạ dày, kiện tỳ, trừ đàm thấp, chữa béo phì thuộc loại hình “vị nhiệt tỳ hư” (dạ dày nóng, chức năng tiêu hóa hấp thụ suy yếu). Dạng bệnh này hay gặp ở thanh thiếu niên, phụ nữ có mang hoặc phát phì sau khi sinh đẻ.
Biểu hiện: Ăn nhiều, mau đói, miệng khát, uống nước nhiều, thân hình béo phì, mặt đỏ tươi, tinh thần sung mãn, đại tiện bí kết, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng.

Thanh nhiệt hóa đàm thang

Hoàng liên 3 g, hoàng cầm, hậu phác, bán hạ, sơn chi tử mỗi thứ 9 g, thạch cao 15 g (sắc trước 30 phút), đại hoàng 5 g (cho vào sau, trước khi bắc thuốc ra 5 phút), cam thảo 5 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, làm tan đờm, chữa béo phì thể “đàm nhiệt nội trở”.

Biểu hiện: Người béo phì, da mặt bóng loáng như bôi mỡ, ăn rất khỏe, mau đói, sợ nóng, phiền táo, miệng đắng, họng khô, tiểu tiện vàng sẻn hoặc đại tiện bí kết. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng.

Hóa tích thang
Đan sâm, xích thược mỗi thứ 15 g; đào nhân, lai phục tử, lá sen, hồng hoa, xuyên khung, diên hồ sách mỗi thứ 9 g, thanh bì 6 g, trạch lan, trạch tả, phục linh mỗi thứ 12 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng chữa béo phì thuộc loại hình “đàm ứ nội tích”.
Biểu hiện: Người béo phì, hoạt động một chút là mệt mỏi, thở dốc, dễ ra mồ hôi, đầu choáng váng, ngực bụng trướng đầy, mạng sườn căng tức, đau hoặc nổi cục; chất lưỡi tối bệu, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc nhớt.
Tác giả: Lương y Huyên Thảo
Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

CÔNG DỤNG CỦA ĐẬU ĐỎ

Đậu đỏ có tên khoa học là Vigna angularis (Willd) Ohwi et Ohashi (Dolichos angularis Willd), thuộc họ đậu (Fabaceae). Cây đậu đỏ dạng thân thảo, leo đứng thẳng, bên ngoài thân có lông bao phủ, cao 30-80cm. Lá kép, có 3 lá chét, cuống dài từ 4-10cm, cuống lá giữa bao giờ cũng dài hơn cuống lá hai bên. Cụm hoa chùm mọc ở nách lá hoặc đầu cành, gồm từ 5-20 hoa màu vàng sáng. Quả đậu đỏ dài, hình hơi lưỡi liềm dài từ 7-20cm. Trong quả có từ 8-15 hạt hình trụ tròn hơi dẹt, vỏ hạt đậu có màu đỏ nâu hoặc nâu tím, nhẵn bóng, dài 0,5-1cm, rộng 0,3-0,6cm.
CÔNG DỤNG CỦA ĐẬU ĐỎ
Qủa đậu đỏ
Người ta đã phân tích 100g hạt đậu đỏ khô thấy chứa chất đường 60,9g, protid 20,9g, chất xơ 4,8g, tro 3,3g, chất béo và khoáng gồm calcium, phosphor, sắt, acid nicotinic, vitamin B1, B2...

Theo đông y cho rằng đậu đỏ vị ngọt, tính ấm có công hiệu thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu ứ, dưỡng huyết, thanh hỏa độc, chữa viêm phù thận, xơ gan cổ trướng, da vàng... Sau đây là những món ăn chữa bệnh từ đậu đỏ, xin giới thiệu để bạn đọc có thể tự lựa chọn sử dụng sao cho thích hợp.

Món ăn chữa viêm gan vàng da, phù, đái rắt: Hạt đậu đỏ 50g, vỏ quýt khô 6g, thảo quả 6g, ớt 6g, cá chép tươi 1kg (một con to). Cá chép đánh vảy, bỏ vây, bỏ ruột, rửa sạch cho đậu đỏ, vỏ quýt, ớt vào bụng cá. Đặt cá vào bát to nêm gia vị hành, hồ tiêu, muối và 1 bát nhỏ nước luộc gà rồi đưa vào nồi hấp chín (30 phút đầu cho lửa to, sau hạ lửa nhỏ để chừng 1 giờ là được), ăn nóng cùng ớt, rau thơm. Món này rất công hiệu dùng để lợi thủy, tiêu phù.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

KINH NGHIỆM DÙNG TRẦU CHỮA BỆNH

Biểu hiện của chứng tỳ âm hư trước hết là ăn uống kém, bệnh nhân không muốn ăn hoặc ăn vào không tiêu, nôn khan, có khi nấc, vị thống cồn cào, miệng khô mà nhạt, đại tiện khô rắn hoặc không có rêu lưỡi, hoặc rêu lưỡi vàng, mạch tế sác. Trong chẩn đoán cần phân biệt với chứng vị âm hư, đại tràng tân dịch suy, chứng tâm tỳ huyết hư.
KINH NGHIỆM DÙNG TRẦU CHỮA BỆNH 01
Ngọc Trúc
Chứng vị âm hư: Tỳ với vị một tạng, một phủ, là gốc của hậu thiên, tỳ ưa táo mà ghét thấp, ngược lại vị nhuận mà ghét táo. Trong thực tế vị không thể thiếu dương khí, tỳ không thể thiếu âm dịch. Nếu âm, dương táo thấp thích hợp với tỳ vị thì công năng thu nạp của vị và công năng vận hóa của tỳ mới bình thường được. Vị có khí hư, âm hư khác nhau, tỳ cũng có khí hư, âm hư do đó khi chẩn đoán phải chú ý phân biệt một cách cụ thể.

Chứng đại tràng tân dịch suy tổn: Chứng đại tràng tân dịch suy tổn chủ yếu là đại tiện táo bón, thường gặp ở người cao tuổi tân dịch kém, hoặc phụ nữ sau khi sinh ra nhiều huyết, hoặc thời kỳ cuối của bệnh phụ thuộc nhiệt chứng. Ngoài táo bón đại tiện bí kết thường thấy lưỡi đỏ, ít tân dịch, rêu lưỡi vàng nhưng không có triệu chứng của tỳ âm hư như ăn kém, cồn cào, nấc...; cơ thể không gầy còm, miệng ráo họng khô, mạch sác, như vậy không có triệu chứng của tỳ âm hư hỏa vượng.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

NẤM DA ĐẦU

tôi tên là MInh năm nay 26 tuổi , cách dây hai năm da đầu tôi thấy ngứa và có rất nhiều mảng màu trắng trông rất giống gầu ,gội bằng dầu gội bình thuờng thì không sạch .cứ sau khoảng nửa ngày lại tháy nhung mảng trắng giông gầu đó nhiều tro lại và rất ngứa ,vè có hiện tượng rụng tóc ở những vùng ngứa đó , và tôi nhận thấy tóc vẫn moc bình thường sau khi rụng ,trong khoảng 2 năm dó tôi chưa có diều trị gì nhưng cũng không thấy vùng ngứa phát triển mạnh . xin bác sĩ trả lời giup tôi , đó là bệnh nấm gì và phương án điềi trị

(nguyẽn văn minh)
NẤM DA ĐẦU
Ảnh minh họa

Trả lời: 

Để điều trị tận gốc bạn cần phải đi khám chuyên khoa da liễu. Tại đó các bác sĩ lấy bệnh phẩm và xét nghiệm để kết luận bạn bị nhiễm chủng nấm gì?
Trong thời gian bạn chưa đi khám được, bạn có thể sử dụng các loại dầu gội đầu trị nấm có chứa hoạt chất ketoconazol để điều trị, bạn tuân thủ theo đúng chỉ dẫn vì bệnh nhiếm nấm da đầu rất khó chữa và rất dễ tái phát.
Tuy nhiên bạn lưu ý, có rất nhiều nguyên nhân không phải nấm da đầu song vẫn có hiện tượng nhiều mảng da đầu bị tróc da, bạn nên đi khám để được điều trị tận gốc

Chúc bạn mạnh khỏe

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

ĂN UỐNG THẾ NÀO KHI BỊ GÚT?

Khi bị gút cấp có thể điều trị bằng thuốc hiện có và nếu bệnh nhân được điều trị đúng cùng với chế độ ăn kiêng phù hợp thì có thể ngăn ngừa được hoặc làm kéo dài thời gian phát bệnh. Nhưng đây là loại bệnh mạn tính không thể chữa khỏi, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.
ĂN UỐNG THẾ NÀO KHI BỊ GÚT?
Hạn chế thức ăn có nhiều nhân purin như thịt, cá nạc.

Bệnh gout (gút) là do lắng đọng các tinh thể urat (monosodium urat) hoặc tinh thể acid uric gây viêm khớp, thường gặp ở nam giới độ tuổi 40 trở lên. Bệnh thường có những đợt kịch phát, tái phát nhiều lần rồi trở thành mạn tính. Khi đã xác định là mắc bệnh gút, chế độ ăn uống có ý nghĩa rất quan trọng nhằm hạ acid uric máu.

Những hậu quả khi mắc bệnh gút

Nếu không được điều trị hoặc để cơn gút xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp dẫn đến tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20% bệnh nhân gút bị sỏi thận do chính tinh thể urat lắng đọng gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá... gọi là cục tophi là do lắng đọng tinh thể urat, khi vỡ làm chảy ra một chất bột trắng giống như phấn. Khi khớp bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Nếu khi khớp bị hư hoàn toàn thì chỉ có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo nhưng vẫn làm hạn chế khả năng vận động, giảm khả năng lao động.

Hạn chế thức ăn có nhiều nhân purin như thịt, cá nạc.

Bệnh có nhiều biến chứng như biến dạng khớp, sỏi thận, suy thận. Nhưng điều đáng chú ý là bệnh nhân mắc bệnh gút thường có thể mắc một số bệnh kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não là những bệnh của hội chứng chuyển hoá có liên quan đến chế độ ăn và cho thấy gánh nặng sức khỏe cộng đồng lớn nhất.

Nguyên tắc ăn uống

Hạn chế thức ăn có nhiều nhân purin như thịt, cá nạc, hải sản, gia cầm. Nếu ăn thì cần luộc chín và đổ nước luộc đi không dùng. Đồng thời cần hạn chế các loại phủ tạng động vật như gan, bầu dục, óc, lòng, dồi lớn...; Hạn chế thức uống có nhiều base purin như rượu, bia, chè, cà phê, nước ép thịt; Các loại rau, quả có vị chua. Nên uống nhiều nước, uống các loại khoáng kiềm (bicarbonat), ăn các loại quả, rau có tính chất lợi tiểu để tránh acid uric ứ đọng lại trong cơ thể.

Tác giả: PGS. TS. Trần Minh Đạo