Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

ZONA - TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ


xin chào bác sĩ: cháu muốn hỏi bác sĩ về triệu chứng và cách điều trị bệnh zona: cách đây hai ngày cháu bắt đầu thấy mắt phải của mình thấy hơi ngứa,ngày hôm sau khi ngủ dậy cháu thấy hai mí mắt mình sưng và đọ đến ngày hôm sau vùng da đỏ lan rộng hơn một chút và xuất hiện những mụn nước nhỏ mọc thành từng dải quanh mí mắt. và có biểu hiện đau rát kiểu bỏng. vậy có phải cháu mắc phải bệnh zona biểu hiện ở mắt không ?. khi đi khám ở bệnh viện bác sỉ nói cháu bị "viêm da tiếp xúc" và có kê đơn thuốc (1:cloxit H 5g bôi quanh mắt sáng tối, 2:loratadine 10 mg 10 viên uống 1 viên sau bửa ăn tối, 3:boganic 40 viên uống ngày 6 viên chia làm 2 lần) liệu có đúng không? ngoài ra cháu còn mắc phải chứng mắt hôt. xin bác sỉ cho cháu một lời khuyên về cách điều trị. mong sớm nhận được câu trả lời của bác sỉ

(huong)

Bệnh zona

Trả lời: 

Chủng virus gây bệnh thuỷ đậu ở trẻ em có một loại tên là Varicella zoster. Virus này gây bệnh từ nhỏ nhưng không ở bệnh cảnh của bệnh Zonna, chúng sống trong các hạch thần kinh chờ khi có điều kiện thuận lợi ( xúc động, strress, suy giảm miễn dịch... ) thì phát triển thành bệnh Zonna.

Thế nào là bệnh zona?

Zona do một dạng vi khuẩn Herpes gây ra. Người mắc bệnh Zona sẽ phải chịu đựng cảm giác đau rát ở vùng phát ban.

Nếu bạn đã từng mắc chứng thuỷ đậu (bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ), đây là điều kiện thuận lợi để bệnh Zona hình thành và phát triển.

Bởi lẽ khi mắc thuỷ đậu ( mặc dù đã được điều trị), cơ thể sẽ tồn tại một loại virus “ẩn nấp” trong các tế bào thần kinh. Khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu, đó chính là lúc loại virus này “ lộ diện” và gây nên căn bệnh Zona.

Đối tượng thường mắc căn bệnh này là những người trên 50 tuổi hoặc có hệ thống miễn dịch suy kém. Ví như bạn có thể mắc Zona nếu như bạn bị ung thư (việc sử dụng văcxin khiến cho cơ thể bạn trở nên yếu hơn) hoặc mắc căn bệnh thế kỷ - AIDS.

Triệu chứng của bệnh.

Bệnh thường gây cảm giác đau rát, cảm giác đau đớn thường xuất hiện trong vài ngày trước khi chứng phát ban xuất hiện.

Chứng phát ban xuất hiện với những vết sưng, mẩn đỏ. Trong một vài ngày các vết sưng trở nên phồng rộp. Các vết sưng đỏ có thể bao trùm khắp lưng, ngực, hoặc có thể mọc ở một bên mặt.

Các vết da rộp thường có vảy cứng và sẽ mất đi sau 7 đến 10 ngày. Bạn sẽ nhìn thấy sự thay đổi của màu sắc da khi các vết vảy rơi rụng.

Thậm chí, có những trường hợp các lớp vảy sẽ chỉ bong sau vài tuần, điều này đồng nghĩa với việc cảm giác đau đớn sẽ kéo dài hơn so với thông thường (từ 1 đến 3 tháng).

Nếu không được chữa trị kịp thời và đúng cách, bệnh có thể ảnh hưởng đến mắt, dẫn đến sưng phồng mí mắt, đỏ và đau. Lâu dần có thể dẫn đến sẹo giác mạc ở mắt và ảnh hưởng đến thị lực. Nặng hơn, nó có thể dẫn tới bệnh tăng nhãn áp (glaucome) trong cả quãng đời về sau, căn bệnh này có thể dẫn đến mù loà.

Điều trị:

Bệnh có thể chữa khỏi nếu được điều trị đúng cách. Một số loại thuốc như Acyclovir, Famciclovir hay Valacyclovir đem lại hiệu quả cao trong việc chữa trị. Thuốc sẽ phát huy hiệu quả cao nếu như bạn bắt đầu dùng thuốc trong 3 ngày đầu sau khi bị phát ban.

Ngoài ra, các bác sĩ có thể yêu cầu bạn dùng thêm thuốc có chứa chất xteoit để giảm đau và giảm sưng phồng.

Bệnh Zona ở mắt cần được điều trị kết hợp với thuốc chống virus và xteoit.

Bên cạnh đó, có thể dùng các loại thuốc như Acetaminophen hay Ibuprofen để giảm đau đối với các vết sưng phồng.

Lưu ý: Các loại kháng sinh không được sử dụng trong những trường hợp này vì có thể gây tổn hại cho gan dẫn đến hội chứng Reye.

Bạn cũng có thể sử dụng kèm các loại kem bôi ngoài da, trên các vết phồng rộp để giảm đau rát.

Căn bệnh này tuy không lây lan, nhưng mọi người xung quanh bạn có nguy cơ cao bị mắc thuỷ đậu nếu họ chưa bao giờ bị thuỷ đậu hoặc chưa tiêm phòng. Virus thuỷ đậu có thể sống trong những chỗ phồng rộp và có thể lan rộng cho đến khi chỗ phồng rộp hoàn toàn lành lại.

Nếu bạn mắc bệnh Zona, tốt nhất nên tránh xa trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi và phụ nữ mang thai.

Trường hợp của bạn nên đi khám tại Viện Da liễu Trung ương để biết đích xác bạn có mắc bệnh không nhé!

Chúc bạn sức khoẻ!

NGUYÊN NHÂN GÂY ĐAU LƯNG VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ


tôi tên long năm nay 25 tuổi,thời gian gần đây tôi rất hay bị đau lưng,nhiêu khi do thay đổi thời tiết cũng có khi do mang vác nặng tôi muốn được tư vấn thêm về triệu chứng của bệnh và dùng thuốc gì để cải thiện tình trạng nhanh nhẫt xin cảm ơn!!!

(nguyễn long)

Ảnh minh họa

Trả lời: 

Bệnh đau lưng gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất ở lứa tuổi 30-60. Có khoảng 80% trường hợp bị đau lưng lần đầu không rõ nguyên nhân, chỉ có 6 - 8% trường hợp do bị lệch đĩa đệm cột sống. Có trên 50% bệnh nhân đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng tỷ lệ tái phát khá cao sau một tháng trở lên; từ 5-10% bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành mạn tính.

Cột sống thắt lưng phải nâng đỡ sức nặng của phần trên cơ thể nên dễ bị đau do tổn thương phần mềm hoặc xương sống. Có nhiều yếu tố môi trường và xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh đau vùng thắt lưng. 

Nguyên nhân nào gây đau lưng?

Các nguyên nhân sinh đau lưng thì nhiều, nhưng có thể phân làm hai loại. Một là nguyên nhân do xương khớp bị tổn thương như: viêm tủy xương, hoại tử xương, viêm khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, khớp bị lão hóa, thoái hóa đĩa đệm cột sống, xoắn vặn vùng giãn đốt sống, chứng gù vẹo cột sống, gãy xương, loãng xương, trượt đốt sống, hẹp ống sống, gân hay là cơ bị rách, bị căng quá mức vì tai nạn hay vì cử động quá mạnh, hoặc đĩa đệm bị xô lệch, khe đốt sống bị hẹp lại... đều có thể sinh đau lưng.

Loại thứ hai tuy ít gặp nhưng lại đáng ngại hơn, khi đó đau lưng chỉ là triệu chứng của các bệnh như: phình động mạch, ung thư từ nơi khác di căn vào xương sống, ung thư tủy sống, bệnh ankylosing spondylitis, thường bị ở đoạn dưới thắt lưng làm cho gân quanh các đốt xương sống bị vôi hóa làm cử động không được và đau lưng; khối u, áp-xe cạnh cột sống, áp-xe ngoài màng cứng, bệnh thận, loét ống tiêu hóa...

Các dấu hiệu thường gặp

Do có nhiều nguyên nhân gây đau lưng nên cũng có nhiều biểu hiện bệnh tuỳ thuộc nguyên nhân. Các dấu hiệu thường gặp là: hội chứng đau cơ mạc, những điểm đau có tính chất di động, đau ở vùng xương cùng chậu và mào chậu; Căng giãn xương cùng chậu do bị đứt các sợi của khớp cùng chậu gây ra tăng nhạy cảm ở vùng lõm của lưng, đau tăng lên khi gấp cẳng chân vào, khi nâng và ấn vào giữa khớp gối bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, đau lan xuống chân; Đau cạnh cột sống lan tỏa ở cả hai phía của cột sống, có thể thấy tăng nhạy cảm đau ở giữa mỏm gai đốt sống hoặc ở vùng diện khớp của đốt sống do các nguyên nhân thường gặp như chấn thương của phần diện khớp, căng giãn cơ, hoặc là các vết rách nhỏ của vòng xơ đĩa đệm; Thoát vị đĩa đệm, triệu chứng gồm: hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, tăng nhạy cảm đau của thần kinh tọa, giảm cảm giác mặt ngoài cẳng chân và đầu ngón cái, động tác gấp bàn chân và ngón cái yếu, hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, giảm phản xạ gân gót, giảm cảm giác mặt sau cẳng chân và cạnh ngoài bàn chân, động tác gấp gan bàn chân và ngón cái yếu; Kinh nghiệm của nhiều thầy thuốc lâm sàng cho thấy có những triệu chứng biểu hiện nguyên nhân gây bệnh đau lưng như: chệch đĩa đệm thì đau tăng khi ho, hắt hơi, vặn mình, giảm đau khi nằm thẳng; Trượt đốt sống thì khi đứng thẳng và đi lại đau tăng nhưng lại giảm đau khi bệnh nhân ngồi; Đi mạnh đau tăng, nghỉ ngơi giảm đau gặp trong hẹp ống tủy... Xquang thường không có giá trị chẩn đoán bệnh bởi vì có nhiều nguyên nhân ở ngay cột sống mà trên phim không thấy; Ngược lại nhiều khi thấy có hình ảnh bất thường, nhưng nguyên do đích thực lại ở chỗ khác; Những người trên 40 tuổi chụp Xquang hay thấy bị thoái hóa xương, gai xương nhưng không đau lưng. 

Các phương pháp chữa trị

Trừ những trường hợp bệnh đặc biệt, có thể áp dụng một hoặc phối hợp các phương pháp sau đây để điều trị bệnh đau lưng: dùng vật lý trị liệu không dùng thuốc; dùng các thuốc trị đau lưng; phẫu thuật. Nhiều bệnh nhân đau lưng khi đứng hay ngồi lâu dễ bị đau tăng nhưng khi nằm nghỉ thì hết đau. Tập thể dục nhẹ nhàng cho cơ lưng hoạt động điều hòa nhiều khi đã khỏi bệnh. Vật lý trị liệu giúp bệnh nhân chóng bình phục, khi đã bớt đau nên thực hiện tập vận động nhẹ tại nhà; Châm cứu, kỹ thuật thư giãn, kéo giãn cột sống, chạy điện kích thích thần kinh, xoa bóp bấm huyệt... cũng có nhiều hiệu quả trong việc chữa khỏi bệnh đau lưng. Có thể dùng một trong các thuốc sau để chữa đau lưng: thuốc giảm đau chống viêm như panadol, aspirin, indomethacin, diclofenac,celebrex... Trường hợp đau nặng, khi dùng các thuốc giảm đau và chống viêm không kết quả, có thể dùng thuốc tiêm chống viêm loại steroid, phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Những trường hợp cần được điều trị bằng phẫu thuật như: lệch đĩa đệm cấp tính có ảnh hưởng tới thần kinh; dây thần kinh bị chèn ép như đau thần kinh tọa, gai cột sống, gãy đốt sống…

Để phòng ngừa đau lưng, cần tránh các tư thế sai như đứng lom khom, ngồi không thẳng, rướn người mang xách vật nặng... Khi có dấu hiệu đau lưng, nên đi khám ngay bác sĩ chuyên khoa cột sống để được hướng dẫn điều trị đúng đắn.

Chúc bạn sức khỏe!

ĐIỀU TRỊ MỒ HÔI NÁCH

tôi bị mồ hôi nach cách day khoảng mot thang xin bác sĩ chi dan cho tôi co thuoc nao bôi làm han chế mo hôi dươc không ? xin cám ơn

(vu hong ngoc)
Hôi nách làm bạn khó chịu

Trả lời: 

Trên cơ thể người có hai loại tuyến mồ hôi. Tuyến mồ hôi thường chiếm nhiều nhất, phân phối khắp diện da và nhiều nhất là lòng bàn tay, bàn chân, da đầu và quanh bụng, lưng..., có chức năng điều tiết nhiệt cơ thể.

Tuyến đặc biệt to hơn loại thường, ở trong nách, quanh núm vú và đối với phụ nữ thì ở quanh bộ phận sinh dục ngoài, khi đến tuổi dậy thì thể tích của tuyến này không liên quan đến sự điều tiết nhiệt cơ thể.

Mồ hôi nách tiết ra nhiều hay ít ở mỗi người mỗi khác. Nếu nách ra quá nhiều mồ hôi thì có thể hạn chế bằng cách: sau khi tắm rửa sạch, lau khô, rắc chất hút nước (bột axit salixylic 3g + canxi cacbonnat 100g) cho hố nách khô ráo. Hoặc dùng loại thuốc bột Trâph (của Công ty Dược và thiết bị vật tư y tế Traphaco) đóng lọ 30g với thành phần kali nhôm, kẽm oxit và đồng sunfat.

Nếu nách ra nhiều mồ hôi có mùi hôi thì dùng một trong các cách sau:

- Đơn giản nhất là dùng phèn chua phi lên, tán thành bột, mỗi tuần xát hai lần vào nách. Hoặc tắm xong, lấy cục phèn chua to (khoảng bằng quả quýt) cứ thế xát vào nách, bảo đảm 2-3 ngày không có mùi hôi nách toả ra.

- Nếu túi tiền cho phép thì dùng mỹ phẩm khử mùi hôi nách có tên thương mại Dr. Paul's và Deodorant... ở dạng phun hơi, sáp hay bi lăn. Công thức của loại này gồm có chất diệt vi khuẩn, chất làm giảm tiết mồ hôi nách (muối nhôm, axit tanic) và các hoạt chất bắt giữ mùi hôi. Chúng tác dụng với các chất có mùi hôi ở nách tạo thành một hợp chất không mùi hôi... Phun xịt hoặc lăn vào nách 2 lần/ngày, khi bớt thì duy trì ngày 1 lần.

Chúc bạn thành công.

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

ĐIỀU TRỊ THỦY ĐẬU Ở NGƯỜI LỚN


Bác sĩ ơi cho em hỏi, em là nam, 20 tuổi và đang bị bệnh thuỷ đậu, em có thể bôi thuốc lotion màu trắng được không ? giữa thuốc xanh methylene và thuốc lotion thì thuốc nào tốt hơn và nhanh liền sẹo hơn ạ ?

(phạm thế dũng)
Thủy đậu lúc mang thai là rất nguy hiểm

Trả lời: 

Bạn có thể tham khảo bài viết sau về Bệnh thủy đậu do bộ Y tế ban hành
Bệnh thủy đậu
Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do virut Varicella zoster gây ra. Bệnh thường nhẹ nhưng rất dễ lây.
Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Người ốm làm lây bệnh ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên cho đến khi nốt đậu đóng vảy (thường ở ngày thứ 7 kể từ khi đậu mọc). Virut từ đờm dãi, nước mũi, nước bọt trẻ ốm bắn sang người lành khi nói, ho hoặc hắt hơi, xâm nhập vào cơ thể qua mũi-họng, rồi theo đường máu đến cư trú ở lớp tế bào thượng bì da và niêm mạc (niêm mạc miệng, kết mạc mắt...) và gây nên những nốt phỏng ở đó.
Tỷ lệ mắc bệnh thường cao ở các đô thị, nơi đông dân và trong những tháng lạnh. Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng. Người lớn cũng mắc nếu như lúc nhỏ chưa mắc.
Sau một thời gian ủ bệnh chừng 14-15 ngày thì bệnh phát. Trong nhiều trường hợp, trẻ vẫn ăn, chơi bình thường làm cho người mẹ không để ý, đến khi đậu mọc mới biết hoặc tình cờ phát hiện được một vài nốt ở đầu. Có khi trẻ sốt nhẹ, sổ mũi, biếng ăn, không chịu chơi, đau mỏi các khớp, dễ kích thích, ngứa, rồi 24-36 giờ sau đậu mọc. Ban mọc khắp nơi, không theo một trình tự nhất định: ban mọc nhiều ở da đầu, trong các kẽ chân tóc. Đậu thường thưa, nhưng cũng có trường hợp mọc dày chi chít, mọc cả ở niêm mạc miệng, kết mạc mắt rồi vỡ ngay. Thoạt đầu, những nốt đỏ giống như ban sởi, vài giờ sau thành nốt phỏng. Nốt phỏng rất nông trông như giọt sương, hình quả xoan; nếu lấy hai ngón tay căng nốt phỏng ra, ta sẽ thấy mặt nốt phẳng nhăn lại. Các nốt này mọc rất nhanh và mọc làm nhiều đợt cách nhau 2-3 ngày, do đó ở cùng một vùng da, có thểí gặp đủ loại nốt: có nốt to, nốt nhỏ, có nốt đỏ, nốt phỏng, có nốt đã đóng vảy. Nhìn chung, sức khỏe của trẻ ít thay đổi. Đến ngày thứ 4-6, nốt đậu đóng vảy, vảy có màu nâu sẫm. Một tuần sau vảy bong và không để lại sẹo. Bệnh khỏi và cơ thể thu được miễn dịch bền vững.
Người lớn chưa từng mắc cũng có thể bị bệnh và bệnh thường nặng. Người bệnh thường sốt cao 39-40oC, trằn trọc, mê sảng; nốt phỏng có thể kèm theo máu. 
Phụ nữ có thai bị thủy đậu trong nửa đầu của thai kỳ có thể gây dị dạng ở não bộ, da... của bào thai.
Với trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, những người bị eczema hoặc có bệnh về máu, bệnh thường nặng, nốt phỏng hay bị loét, hoại tử, có chứa chấy nhày màu xám; có khi còn gây viêm thận cấp, viêm tai giữa, viêm phổi, viêm loét giác mạc, viêm tủy thoáng qua, viêm màng não vô khuẩn.
Nếu trẻ gãi nhiều hoặc chăm sóc vệ sinh không chu đáo, nốt phỏng có thể bị bội nhiễm gây nhiễm khuẩn da nặng hoặc nhiễm khuẩn máu do vi khuẩn tụ cầu.
Thủy đậu là một bệnh nhẹ, song rất cần được chăm sóc chu đáo để không xảy ra biến chứng.
- Trẻ ốm phải cho cách ly tại nhà trong suốt thời gian từ khi bệnh bắt đầu cho đến khi bong hết vảy. Trước khi cho trẻ trở lại vườn trẻ, lớp học... phải tắm gội trẻ cho sạch vảy.
- Giữ cho da của trẻ luôn luôn sạch sẽ. Quần áo phải được giặt bằng xà phòng và nước sạch rồi là trước khi mặc. Chú ý giữ sạch tay và cắt ngắn móng tay; trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (talc) vô khuẩn hoặc phấn rôm khắp người để trẻ đỡ ngứa. Hằng ngày (ngày 2-3 lần) nhỏ mắt, mũi thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1%.
- Khi nốt phỏng vỡ, chỉ nên bôi thuốc xanh metilen; không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ.
- Không được tự ý dùng thuốc kháng sinh. Mọi trường hợp nhất thiết phải được thầy thuốc thăm khám bệnh chỉ định và hướng dẫn cụ thể.
- Khi thấy trẻ đột nhiên sốt cao hoặc nốt phỏng mọc dày chi chít, hoặc chảy nước mắt tự nhiên, sợ ánh sáng cần cho trẻ đi khám bệnh ngay.

Chúc gia đình bạn sức khỏe.

NGUYÊN NHÂN KHIẾN TRẺ ĐI NGOÀI RA MÁU


Các Bác sĩ làm ơn cho tôi hỏi: Con trai tôi 18 tháng tuổi, cháu ăn uống bình thường và khoẻ mạnh (cháu được 13kg) nhưng thỉnh khi đi ngoài cháu lại bị ra khá nhiều máu tươi (cháu bị đã 4 lần, vào những lần đi hơi bị táo), những lần như vây chỉ thấy cháu có vẻ hơi mệt thôi, không tháy cháu có vẻ đau đớn gì, xin Bác sĩ tư vấn cho cháu bị bệnh gì ? phương pháp điều trị và ăn uống thế nào cho phù hợp ? Xin cảm ơn các Bác sĩ!

(Vu Hoa Thanh)
Trẻ đi ngoài

Trả lời: 

Có rất nhiều nguyên nhân khiến bé đại tiện ra máu, vì vậy rất dễ nhầm lẫn khi xác định chữa trị. Cha mẹ cần quan sát kỹ màu máu trong phân của trẻ để bác sĩ chuẩn đoán chính xác và điều trị có hiệu quả. 

Nguyên nhân chính của việc xuất huyết khi đi tiêu chính là do gan của bé con khá non nớt nên không thể tạo đầy đủ các chất đông huyết với trường hợp bé sinh thiếu tháng. Bên cạnh đó có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến việc bé đi tiêu ra máu: Bé bị táo bón nên phân khô cứng làm rách hậu môn, bé bị bệnh lộn ruột, bệnh sốt thương hàn, bệnh sốt xuất huyết…

Chính vì có nhiều nguyên nhân dẫn đến đi tiêu ra máu nên cha mẹ rất dễ nhầm lẫn! Màu của máu trong phân là yếu tố quan trọng để các bác sĩ chẩn đoán chính xác hơn nên các bố mẹ cần theo dõi và quan sát kỹ càng.

- Triệu chứng của bệnh lồng ruột: Bé đau bụng dữ dội, đau từng cơn, đi tiêu ra nhiều máu và đờm, thường kèm theo nôn ói. Việc như vậy xảy ra với các bé mạnh khỏe, bụ bẫm thì chính là bé bị lồng ruột chứ không phải bị bệnh khác như người ta vẫn hay nhầm nếu không được chụp X-Quang hay siêu âm kỹ càng. Trong trường hợp này, hi thấy bé đau bụng dữ dội một cách bất thường là phải đưa bé đến bác sĩ khám ngay chứ không đợi đến lúc trẻ có triệu chứng nôn ói và ra máu ở hậu môn.

- Triệu chứng bệnh táo bón: Bé đi tiêu ra phân khô, cứng, chặt nên làm rách màn hậu môn gây xuất huyết. Bé đi tiêu chảy ra máu tươi, thành từng giọt sau khi phân đã ra.

- Triệu chứng bệnh trĩ: Bé có thể đi tiêu ra máu vì trĩ nhưng bệnh này rất hiếm ở trẻ con. Khi bị trĩ, bé đi tiêu rất đau đớn, hậu môn sẽ bị trầy xước gây chảy máu nên khiến người chăm sóc dễ lầm là bệnh kiết.

- Triệu chứng bệnh sốt thương hàn: Biến chứng bình thường nhất của xuất huyết ở bộ tiêu hóa, sốt xuất huyết làm cho bé nôn ói, đi tiêu ra máu. Trong trường hợp này máu có màu đen và hơi xám hoặc đỏ tươi.

- Triệu chứng chảy máu cam: Có nhiều bé đi cầu ra phân đen vì ngày hôm trước đã bị chảy máu cam chứ không liên quan đến đường tiêu hóa của bé.

- Triệu chứng bệnh kiết: Bé đi tiêu khó khăn, đau bụng nhiều, bé phải rặn nhiều phân mới ra, đau bụng dưới nhiều khiến cho bé đòi đi cầu nhưng phân không thể ra hoặc ra ít, có lẫn đàm và máu.

Bệnh kiết do Amibe là một loại bệnh ở ruột già, giai đoạn đầu phân đỏ tươi, có lẫn mũ do ruột tiết ra và đàm nhớt. Bệnh thường làm bệnh nhân nóng sốt nhưng không cấp tính. Kiết do Amibe thường ít xảy ra ở trẻ em nhưng có thể trở thành kinh niên khó chữa. 

Kiết do trực tràng thường gặp ở trẻ em. Giai đoạn 2 – 6 tuổi bé dễ bị kiết trực tràng. Bệnh cấp tính, bé nóng sốt rất nhanh, có thể gây động kinh, nôn ói, đi tiêu nhiều lần có đờm-máu lẫn lộn, đau bụng. Nếu không chữa kịp thời bé có thể tử vong do mất nước và rối loạn các chất điện giải. Nhưng nếu chữa kịp thời và đúng cách thì bệnh kiết trực tràng là một bệnh dễ khỏi.

Bạn nên đưa bé đi khám sớm, cần chẩn đoán chính xác nguyên nhân để có chỉ định điều trị và chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Chúc bé mau khỏi!

PHÂN BIỆT VIÊM MỦI DỊ ỨNG & VIÊM XOANG


Thưa bác sĩ, em muốn hỏi làm thế nào để phân biệt được bệnh viêm mũi dị ứng với bệnh viêm xoang?em rat hay bi ngứa mũi, chảy nước mũi đặc biệt là khi ngủ dậy hay bị chảy nước mũi và hắt xì hơi liên tuc.Tuy nhiên nước mũi của em trong và loãng ko có mùi. Em xin cảm ơn!

(ngô thị thuý hà)

Viêm mủi dị ứng

Trả lời: 
Bệnh viêm mũi dị ứng là một trong những bệnh phổ biến nhất hiện nay, gây ra rất nhiều phiền toái, ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ của người bệnh. Nó cũng là một trong số các nguyên nhân chính dẫn đến viêm xoang mãn tính. Việc điều trị viêm mũi dị ứng hiện nay đối với cả Đông và Tây y đều rất khó khăn, hầu như chỉ có thể giúp người bệnh thoát khỏi các triệu chứng khó chụi trong một thời gian nhất định, bệnh sẽ lại tái phát lại khi tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng. 
Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin đầy đủ, khoa học, giúp bạn xác định chính xác về bệnh của mình, tránh nhầm lẫn giữa viêm mũi dị ứng và viêm xoang mãn tính để từ đó có phương hướng điều trị hiệu quả.

Viêm mũi dị ứng bản chất của nó chính là sự phản ứng miễn dịch của mũi xoang trước các tác nhân kích thích từ môi trường như: thời tiết, bụi bẩn, phấn hoa, nấm mốc, mùi lạ…Các tác nhân kích thích gây dị ứng có thể xâm nhập theo các đường: hít thở, ăn uống, hoặc qua da.

Như vậy chúng ta có thể thấy bệnh viêm mũi dị ứng phát sinh không phải do vi khuẩn, viêm nhiễm, tổn thương…như viêm xoang mãn tính mà hoàn toàn phụ thuộc vào cơ địa của mỗi người, cùng một tác nhân kích thích nhưng có người bị viêm mũi dị ứng có người hoàn toàn không việc gì.

Do phụ thuộc vào cơ địa của từng người nên bệnh viêm mũi dị ứng thường mang yếu tố di truyền, người bị viêm mũi dị ứng được coi là người có cơ địa dị ứng.

Viêm mũi dị ứng cũng phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của mỗi người: như khi sức khoẻ kém, chức năng gan yếu, có dị hình như gai, lệch vách ngăn…cũng dễ bị viêm mũi dị ứng.

Bệnh viêm mũi dị ứng rất dễ chuẩn đoán, có thể căn cứ vào một số triệu chứng sau:

+ Triệu chứng rõ ràng nhất của viêm mũi dị ứng là ngứa mũi, hắt hơi liên tục thành tràng dài, không thể kiểm soát được (với người viêm mũi dị ứng thời tiết sẽ hắt hơi rất nhiều khi gặp lạnh, có thể vào buổi sáng hoặc khi thời tiết thay đổi). Khi hắt hơi nhiều thì sẽ kéo theo cảm giác đau đầu do các cơ phải co thắt.

+ Chảy nước mũi: Người bệnh bị chảy cả 2 bên, dịch màu trong suốt, không có mùi.

+ Ngạt mũi: Có khi ngạt từng bên, có khi ngạt cả 2 bên, người bệnh phải thở bằng miệng.

+ Chụp Xquang cũng không cho hình ảnh rõ rệt ( khác với bệnh viêm xoang mãn tính sẽ cho thấy các hốc xoang chứa mủ ).

Người bị viêm mũi dị ứng thường phát bệnh theo từng cơn, vào thời điểm chụi tác động của các tác nhân gây dị ứng. Ngoài cơn người bệnh có thể cảm thấy hoàn toàn bình thường.
Diễn biến của bệnh viêm mũi dị ứng có thể là hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, hoặc theo vùng miền… Viêm mũi dị ứng nếu kéo dài và liên tục có thể dẫn đến viêm xoang mãn tính hoặc pôlip mũi - xoang.

Lưu ý: Các trường hợp viêm xoang mãn tính hoặc pôlip xuất phát từ dị ứng mũi xoang thì việc điều trị sẽ khó khăn hơn.

Xuất phát từ việc nghiên cứu, phân tích nguyên nhân gây ra bệnh viêm mũi dị ứng, chúng ta chỉ có thể đưa ra một số lưu ý giúp người bệnh giảm bớt, hạn chế bệnh:

+ Tránh tiếp xúc với các tác nhân gây kích thích dị ứng: Giảm, tránh bụi trong nhà cũng như ngoài đường, tránh tiếp xúc với lông động vật, phấn hoa, mùi lạ, không hút thuốc lá, đặc biệt phải giữ ấm cho cơ thể nhất là khi về sáng hoặc mùa lạnh…

+ Nhỏ, xịt mũi khi bị ngạt bằng các thuốc co mạch giúp thông mũi.

+ Nghỉ ngơi, sinh hoạt điều độ, uống vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Trên đây là một số thông tin về bệnh viêm mũi dị ứng, hy vọng các kiến thức này sẽ giúp ích được cho bạn.

Để biết được chính xác bệnh của mình, chúng tôi khuyên bạn nên đi khám để có sự chẩn đoán và tư vấn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa!

Chúc bạn sức khỏe!

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

HỘI CHỨNG LOẠN CẢM HỌNG VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ


Năm nay tôi 27 tuôi. Gần đây mõi khi nuót nuoc bọt, tôi thấy nh­u có vật gì đó mắc ở cỏ họng thấy khó chịu và t­uc nguc, nên tôi hay khạc nho. khi nam xuong tôi cũng thấy nhu vây. Tôi đang rất lo lang. Bác sỹ có thể tu vấn cho tôi về hiện tuọng này voi đuoc không? Và tôi có thể đi khám o bệnh viện nào đuoc? Xin cam on bác sỵ
(nguyen duy tai)

Hội chứng loạn cảm họng

Trả lời: 

Theo thư bạn mô tả, có thể bạn bị loạn cảm họng. Đây là một hội chứng gây ra bởi nhiều bệnh. Loạn cảm họng thường thể hiện ở cảm giác chủ quan có dị vật mắc trong họng (cảm giác bị hóc xương) hoặc có khối u phát triển, chèn ép họng (ám sợ ung thư họng).

Tuy nhiên cảm giác vướng mắc này chỉ cảm nhận thấy khi nuốt nước bọt suông, còn khi ăn và uống lại hoàn toàn bình thường. Các triệu chứng phụ kèm theo loạn cảm họng có thể là: ngứa họng, đau mỏi cổ, tê vai gáy, đầy bụng, ăn kém ngon, ợ hơi, trầm cảm, cảm giác tức ngực...

Do họng là ngã tư giao thoa của đường ăn và đường thở với nhiều cấu trúc giải phẫu đồng thời là khu vực rất phong phú về hệ thống thần kinh, nên loạn cảm họng có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra khi bị các yếu tố kích thích như các bệnh hoặc tổn thương ở ngay vùng họng, răng, miệng hoặc xa hơn như ở thực quản, thậm chí ở dạ dày - ruột, ở cột sống cổ và bao gồm cả các rối loạn chuyển hóa hay nội tiết.

Bệnh nhân loạn cảm họng thường phàn nàn có cảm giác khó thở như không hít được không khí vào phổi, nuốt nước bọt cảm giác có dị vật, xương... nằm ngang cổ họng, cứ phải khịt khạc liên tục nhưng khi ho khạc thì không có gì cả. 

Trước một bệnh nhân loạn cảm họng, thầy thuốc thường phải khám xét rất kỹ để có thể loại trừ hết mọi nguyên nhân thực thể như: hóc xương thật, viêm amiđan mạn tính, dài mỏm trâm (một loại bệnh lý bẩm sinh), viêm mũi xoang, bị ung thư giai đoạn đầu hoặc khối u lành gây chèn ép ở họng, dấu hiệu báo trước bệnh của tuyến giáp trạng, cơ thể béo phì cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên... 

Sau đó mới được nghĩ đến những nguyên nhân do rối nhiễu tâm lý như: ưu bệnh, ám sợ, hysteria, stress tâm lý như thất tình, làm ăn thua lỗ... Riêng đối với các nguyên nhân tâm lý dấu hiệu đau họng và nuốt vướng thường lúc ở bên trái, lúc ở bên phải, lúc lại nằm ngay ở dưới hàm rồi dần dần đau xuống cả dạ dày... thì trị liệu tâm lý có vai trò quyết định. Đây có thể là một rối loạn chức năng thần kinh của cơ thể. Sự rối loạn chức năng thần kinh là do mất thăng bằng cơ thể giữa các tạng phủ gây ra theo y học cổ truyền. 

Nấm họng miệng do nấm Candida gây nên cảm giác đau tức và nuốt khó chịu như loạn cảm họng. Trong viêm họng mạn tính, chứng loạn cảm họng phát sinh ngay cả khi đã trị khỏi viêm họng và ho. Bệnh nhân thường thấy nuốt vướng do thành sau họng - hạ họng viêm lan tỏa mức độ nhẹ, hoặc một số đảo biểu mô niêm mạc thành sau họng phù nề nhẹ dẫn đến co thắt cơ xiết họng dưới ở các mức độ khác nhau. 

Loạn cảm họng thường gặp ở những người có phản xạ nhạy cảm ở niêm mạc hạ họng nhất là sau một đợt viêm họng kéo dài. Khi khám thực thể một điều khó khăn đặt ra là miệng họng, amiđan, lưỡi bệnh nhân hoàn toàn bình thường. 

Chính điều này làm cho bệnh nhân băn khoăn, không tin tưởng ở thầy thuốc, mất ăn, mất ngủ vì việc lo sợ bị ung thư hoặc mắc một dị vật ở trong cổ mà thầy thuốc không chẩn đoán ra dẫn đến tình trạng bệnh nhân tìm hết thầy thuốc này tới thầy thuốc khác để điều trị với tập đơn thuốc dầy trong tay, tốn kém mà vẫn bán tín bán nghi không biết theo người bác sĩ nào để điều trị cho hết khó chịu trong họng. 

Loạn cảm họng thường gặp ở phụ nữ tuổi 40 - 50 trong giai đoạn tiền mãn kinh mắc bệnh nhiều hơn hoặc ở những nam giới hay hút thuốc lá và uống rượu. Bệnh nhân có tiền sử đau bao tử đã được mổ nội soi cũng đóng góp làm tăng số lượng bệnh nhân bị loạn cảm họng.

Việc điều trị loạn cảm họng nên cố gắng tìm ra nguyên nhân để giải quyết.

Nếu nguyên nhân gây ra loạn cảm họng được tìm thấy như viêm amiđan mạn tính, dài mỏm trâm... thì việc phẫu thuật loại bỏ các nguyên nhân này đồng nghĩa với bệnh nhân khỏi bệnh.

Điều trị nội khoa bằng các thuốc giảm phù nề như anphachymotrysin, kết hợp với các thuốc giảm đau, an thần, điều chỉnh rối loạn nội tiết...

Tâm lý liệu pháp được áp dụng ở những bệnh nhân có hội chứng loạn cảm họng được xác định là do nguyên nhân này rất có hiệu quả.

Bạn nên đi khám tại chuyên khoa Tai mũi họng của các bệnh viện để được chẩn đoán nguyên nhân và tư vấn điều trị từ bác sĩ chuyên khoa.

Chúc bạn sức khoẻ!

BỆNH CƯỜNG GIÁP


Xin bac si cho em hỏi, em bị bệnh cuờng giáp đã điều trị thuốc đuợc 1 năm , nay em muốn mổ có đuợc không? em có nghe một số nguời nói là không nên mổ có đúng không ạ?Xin cảm ơn bác sĩ
(nguyễn thị hoà)

Ảnh minh họa: sơ đồ bệnh cường giáp


Trả lời: 

Cường giáp là một hội chứng, có thể do nhiều bệnh khác nhau gây ra. Đa số trường hợp cường giáp là do bệnh Basedow gây ra (tên gọi khác là bệnhGraves). Trong trường hợp này, nếu không có những chống chỉ định, cần phải điều trị bằng thuốc kháng giáp, trung bình từ 1 đến 2 năm. Một điều bạn cần lưu ý là bệnh này có thể tái phát sau khi kết thúc đợt điều trị. Do đó, bệnh nhân cần tái khám đều theo hẹn của bác sĩ sau khi đã ngưng thuốc để kiểm tra và phát hiện sớm nếu tình trạng cường giáp xuất hiện trở lại.

Cường giáp được gợi ý bằng một số dấu hiệu và triệu chứng. Bệnh nhân nhẹ thường không có triệu chứng. Ở bệnh nhân trên 70 tuổi, biểu hiện kinh điển cũng có thể không thấy được. Nói chung, các triệu chứng càng rõ ràng thì tình trạng bệnh càng xấu đi. Các triệu chứng thường liên quan đến tăng chuyển hoá cơ thể. Các triệu chứng phổ biến nhất được liệt kê dưới đây: 

-Tăng tiết mồ hôi. 

- Không chịu được nóng. 

- Tăng nhu động ruột. 

- Run. 

- Lo lắng, kích thích. 

- Nhịp tim nhanh. 

- Sụt cân. 

- Mệt. 

- Giảm tập trung. 

Ở bệnh nhân trẻ, nhịp tim nhanh, không đều và suy tim có thể xảy ra. Có một số trường hợp nặng, nếu không điều trị kịp thời sẽ đưa đến cơn “ bảo giáp”, bao gồm cao huyết áp, sốt, suy tim.

Chẩn đoán cường giáp như thế nào ? 

Nghi ngờ cường giáp khi một người có triệu chứng run tay, đổ mồ hôi nhiều, da ẩm mịn, có thể có phù quanh mi mắt, lồi mắt. Diễn tiến của những triệu chứng này thường dễ phát hiện. Còn ở người già triệu chứng cường giáp thường kín đáo. Trong mọi trường hợp xét nghiệm máu là rất cần thiết để chẩn đoán bệnh.

Hormon tuyến giáp có thể được đo trực tiếp và thường tăng cao trong cường giáp. Tuy nhiên, công cụ chính để phát hiện cường giáp lại là đo TSH trong máu.

TSH được bài tiết từ tuyến yên, nếu hormon tuyến giáp được bài tiết quá mức, TSH sẽ có tác dụng điều hoà làm giảm hormon xuống. Khi TSH giảm xuống, thì tuyến giáp lại bài tiết hormon trở lại. Do đó, đo lượng TSH có thể giảm hoặc không phát hiện được trong trường hợp cường giáp. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ. Nếu lượng hormon tuyến giáp được bài tiết nhiều quá thường là do u tuyến yên bài tiết TSH, khi đó lượng TSH tăng cao một cách bất thường. Lúc này người ta gọi là cường giáp thứ phát (tức là do nguyên nhân tại tuyến yên chứ không phải tại tuyến giáp).

Mặc dù xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh cường giáp, nhưng nó không giúp chỉ điểm đặc hiệu nguyên nhân gây ra cường giáp. Biểu hiện ở mắt gần như chắc chắn để chẩn đoán bệnh Graves ( còn gọi là bệnh Basedow). Chụp CTscan tuyến giáp kết hợp với tìm kháng thể giúp chẩn đoán nguyên nhân gây cường giáp. Các phương pháp này được lựa chọn tuỳ trường hợp.

Điều trị cường giáp như thế nào? 

Các phương pháp điều trị cường giáp bao gồm :

- Điều trị triệu chứng. 

- Thuốc kháng giáp. 

- Iodine phóng xạ. 

- Mổ. 

Điều trị triệu chứng

Đó là những thuốc có thể dùng ngay để điều trị triệu chứng do tăng hormon tuyến giáp quá mức, cũng như thuốc điều trị nhịp tim nhanh. Một trong những loại thuốc chính được sử dụng để điều trị triệu chứng này là thuốc ức chế bêta (inderal, Tenormin, Lopressor). Các thuốc này có tác dụng chống lại sự tăng chuyển hoá do hormon tuyến giáp gây ra. Bác sĩ là người quyết định đưa ra phác đồ điều trị dựa trên một số thay đổi bao gồm nguyên nhân của cường giáp, tuổi người bệnh, kích thước tuyến giáp và các bệnh lý phối hợp.

Thuốc kháng giáp

Có 2 loại thuốc kháng giáp chính có thể được sử dụng : methimazole (Tapazole), propylthiouracil ( PTU). Những thuốc này sẽ tích tụ ở mô tuyến giáp và ức chế bài tiết hormon tuyến giáp. Ngoài ra PTU còn ức chế sự chuyển T4 thành T3 hoạt động. Nguy cơ chính có thể có khi dùng các loại thuốc này là làm giảm bạch cầu của tủy xương (mất bạch cầu hạt ). (Bạch cầu là loại tế bào máu rất cần thiết cho cơ thể chống lại bệnh nhiễm trùng ). Người ta không thể khẳng định được khi nào có phản ứng phụ xảy ra. Vì vậy việc xét nghiệm thuốc trong máu thường không có lợi. Điều quan trọng đối với người bệnh là phải biết khi nào bị sốt, đau họng và bất kỳ triệu chứng nào xuất hiện khi đang dùng thuốc thì lập tức đến khám bác sĩ. Nguy cơ giảm bạch cầu hạt dưới 1%. Thường người bệnh sẽ phải theo đuổi việc điều trị kháng giáp hàng tháng, người bệnh được theo dõi cho đến khi tuyến giáp về bình thường. Một khi lượng hormon giáp trong máu ổn định, bệnh nhân có thể đến khám bác sĩ mỗi 3 tháng một lần, nếu đã có kế hoạch điều trị.

Thường thì việc điều trị kháng giáp lâu dài chỉ áp dụng cho bệnh nhân bị bệnhGraves, vì vậy hiện nay bệnh này thuyên giảm theo thời gian nhờ vào điều trị bằng xạ trị hoặc mỗ. Sau 1-2 năm điều trị, tỷ lệ khỏi bệnh khoảng 40-70%. Khi đã khỏi bệnh, tuyến giáp không lớn thì việc điều trị bằng thuốc kháng giáp là không cần thiết. Các nghiên cứu mới đây cũng cho thấy việc dùng kết hợp thuốc viên hormon tuyến giáp với chế độ ăn uống thường có tỷ lệ khỏi bệnh cao. Liều cao thuốc kháng giáp có thể được dùng kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch ở người bị bệnh Graves. Phương pháp điều trị này vẫn còn bàn cãi

Khi ngưng điều trị, bệnh nhân sẽ tiếp tục đến khám bác sĩ mỗi 3 tháng một lần trong năm đầu tiên vì bệnh có thể tái phát trong giai đoạn này. Nếu bệnh tái phát, thì có thể tiếp tục dùng lại thuốc kháng giáp hay iodine phóng xạ hay cũng có thể xem xét đến việc mỗ.

Bạn nên đi khám tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương để được chỉ định điều trị.

PHỤC HỒI VẬN ĐỘNG SAU GÃY SƯƠNG


Thưa bác sĩ, cháu là 1 cầu thủ bóng đá hiện cháu đang là 1 cầu thủ thử việc của 1 câu lạc bộ danh giá của việt nam, hiện nay cháu 15tuổi, trong 1 lần khi đang tập cùng mọi người trong đội trong 1 pha bóng đốikháng với 1 cầu thủ nữa tron đội, cháu bị chấn thương ở cổ chân, sau khi đi khám bác sĩ cháu đã chụp x-quang và được chuẩn đoán là " gãy rạn sụn đầu dưới xương chày" và phải bó bột, cháu muốn các bác sĩ tư vấn cho cháu các cách tập luyện để hồi phục sau khi tháo bột để cháu sớm trở lại thi đấu bình thường được! Cháu xin cảm ơn bác sĩ!

(đinh hải cường)


Tập vận động
Trả lời: 

Khi xương tay, chân bị gãy, có những trường hợp bị giập, như vậy không chỉ xương bị tổn thương mà các cơ, gân, dây chằng cũng bị tổn thương theo. Tùy theo từng mức độ thương tổn, bệnh nhân được bó bột hay phải mổ nẹp đinh trong xương và khâu lại phần mềm bị rách, giập. Sau một thời gian bị cố định, người bệnh hầu như không có sự vận động ở chỗ bị tổn thương cho nên dễ bị mất cảm giác và có biểu hiện teo ở những nơi này. Thậm chí có những trường hợp do đau đớn không chịu vận động đã dẫn đến loét do tỳ đè lâu ngày, thậm chí nhiễm khuẩn hô hấp, tắc mạch chi, giảm phản xạ đại tiểu tiện… đây là biểu hiện hay gặp ở người già. Vì vậy sau mổ, phải bó bột người bệnh phải tự giác, kiên trì, chịu đau, phục hồi cử động khớp, duy trì sức cơ, tỷ lệ liền xương sẽ tăng nhờ vận động.

Những biện pháp phục hồi bao gồm

- Cử động khớp: Khớp bất động lâu sẽ bị cứng do cơ co ngắn lại, bao khớp bị co rúm, bao hoạt dịch tăng sản mỡ, sụn bị mỏng. Do vậy cử động khớp là cách tốt để bơm cho dịch khớp ra vào, khớp được nuôi dưỡng và trở nên mềm mại, tốc độ cho một lần co duỗi là 45 giây, mỗi lần tập 10 – 15 phút, ngày 4 – 6 lần. Có thể tập từ ngày thứ 3 sau mổ hoặc sau bó bột. 

- Tập duy trì sức cơ: Tập tăng sức căng của cơ (độ dài bó cơ không thay đổi, khớp không cử động), tập co cơ (sao cho khớp cử động, co cơ ngắn lại). Khi khớp cử động còn đau nhiều thì tập căng cơ, khi khớp đỡ đau thì tập co cơ.

- Tập đi: Dùng nạng gỗ tập đi khi xương chưa liền. Thanh ngang đầu trên nạng không được tỳ vào nách mà để tựa bên lồng ngực. Dáng đi thẳng, mắt nhìn thẳng ra phía trước, không cúi nhìn xuống chân. Hai vai phải ngang bằng không được lệch cao thấp. Tập bước đi có 3 điểm tựa, không tỳ hoặc chỉ tỳ nhẹ tăng dần lên chân đau. Hai tay chống nạng ngay ngắn, hai mũi nạng và bàn chân lành tạo nên tam giác đế. Đưa 2 nạng ra trước 10 – 30 cm một cách tăng dần, lấy thăng bằng trên đôi tay cầm, rồi bước chân lành ra trước, tiếp tục bước khác. Giai đoạn tiếp theo, dùng gậy chống lúc xương đã gần liền vững. Nhiều người thích dùng gậy chống bên chân đau nên đã làm dáng đi bị xấu đi. Phải tập cho quen chống gậy bên chân lành và khi bước chân lành ra trước thì sức nặng trên chân đau và gậy chống sẽ cùng chịu một lúc. Không nên dùng nạng kẹp nách vì như thế dáng đi sau này trông sẽ tàn phế. Thời kỳ xương liền vững tỳ không đau ở ổ gãy xương thì bỏ gậy và tập đi như bình thường.

- Dùng nhiệt: Tác dụng của dùng nhiệt là giảm đau, đỡ khó chịu, có lợi ích khi tập cử động chủ động. Dùng túi chườm nước nóng, chườm lên chỗ đau để luyện tập. Chú ý không được dùng nhiệt song ngắn cho toàn chi có đinh, nẹp vít vòng thép kim loại nóng lên có thể làm hỏng tổ chức, dễ gây viêm rò.

- Tập sinh hoạt thông thường: Cần tập làm động tác trong sinh hoạt bằng lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà, tập ngồi xổm đứng lên. Đối với tổn thương xương tay thì tập nắm, mở bàn tay (dùng hòn đá hình quả trứng để nắm), tập cầm bút, đũa, tránh không để tay bị cong, khoèo. Khi nào không còn đau nữa, không bị hạn chế thì quá trình tập luyện này mới đạt kết quả tốt. Thời gian tập thường từ 6 tháng đến 2 năm, tùy theo mức độ thương tổn.

- Biện pháp xoa nắn: Nên xoa nắn thường xuyên ổ gãy xương liền khớp. Chỉ xoa nắn nhẹ nhàng bằng tay mà không được dùng các loại dầu cao, cồn, thuốc xoa bóp nào để xoa vào các khớp, vì như vậy rất có thể làm cho xơ cứng khớp, vôi hóa cạnh khớp.

- Dùng thêm các sản phẩm như: Dũ Thương Linh hỗ trợ làm tăng quá trình tái tạo tế bào xương và nhanh chóng làm liền xương bị gãy.

Khi bị chấn thương, để chống lành, người bệnh cần kiên trì tập luyện, cần kết hợp các biện pháp tập luyện khác nhau để trở lại hình dáng ban đầu./.

Chúc em mau bình phục!

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

CÓ PHẢI BỊ BỆNH GAN


Tôi bị nóng,khó thở,hay bị ngứa hơn một năm nay.Khi uống một ít bia ruợu là bị đỏ khắp người.Xin hỏi tôi bị bệnh gan phải không.Tôi có uống bogaic,nhưng sau khi uống thì thấy rất khó chịu
(ngô quốc tuấn)

Lên khám định kỳ
Trả lời: 
Gan là một tạng lớn nhất của cơ thể, cân nặng chừng 1,2kg – 1,3kg. Lượng máu lưu thông qua Gan rất lớn, gần bằng một nửa lưu lượng máu của cơ thể vì thế mà nó còn được ví như "Quả tim thứ hai" của cơ thể. Gan đảm nhiệm nhiều chức phận rất quan trọng và phức tạp, người ta ví gan như một phòng thí nghiệm tinh vi và hiện đại nhất. Gan đứng ở cửa ngõ, nối liền ống tiêu hóa với toàn bộ cơ thể, cũng là tạng có nhiều chức năng nhất như nội tiết (cung cấp các chất cần thiết cho như lipide, protein, glucide … vào máu), vừa ngoại tiết(bài tiết mật…), vừa là kho dự trữ của nhiều chất, cơ quan thải độc quan trọng của cơ thể. Tại gan, toàn bộ những quá trình này xảy ra rất mạnh nhằm duy trì những điều kiện cần thiết để duy trì sự sống. Đặc biệt, gan đóng vai trò chính yếu trong việc loại bỏ ra khỏi máu các sản phẩm độc hại sinh ra từ ruột hay nội sinh (do cơ thể tạo ra), chuyển đổi chúng thành những chất mà cơ thể có thể loại bỏ dễ dàng. Do đó tổn thương tế bào Gan gây ảnh hưởng rất nhiều đến các cơ quan khác trong cơ thể và bệnh Gan thường là bệnh hiểm nghèo.

Các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gan như: Da và lòng trắng(củng mạc) mắt vàng, dấu hiệu này gọi là hoàng đản và thường là dấu hiệu đầu tiên, đôi khi là dấu hiệu duy nhất của bệnh gan. Nước tiểu sậm màu, phân vàng hoặc bạc màu, chán ăn, đau bụng, nôn ra máu, đi ngoài(cầu) phân đen hoặc có máu. 

Bệnh gan có thể gây ra bụng báng( cổ trướng) do ứ đọng dịch trong khoang ổ bụng, ngứa kéo dài và lan rộng hoặc thay đổi cân nặng bất thường (trọng lượng cơ thể tăng hoặc giảm quá 5% trong vòng 1- 2 tháng). Rối loạn giấc ngủ, tâm thần, mệt mỏi hoặc giảm khả năng chịu đựng, mất sự ham muốn và khả năng tình dục… nặng nhất là hôn mê Gan…mà hậu quả này là do sự ứ đọng các chất độc trong cơ thể gây tổn thương chức năng của não bộ. Để có thể chẩn đoán chính xác cần làm thêm một số xét nghiệm thăm dò chức năng Gan…

Giải pháp mới giúp bảo vệ tế bào Gan, cải thiện chức năng, phòng chống bệnh Gan

Việc điều trị đến nay vẫn chưa có phương pháp triệt để, chủ yếu là hỗ trợ như: Một chế độ ăn cân đối, kiêng rượu, lợi tiểu và bổ sung vitamin, đi khám ngay nếu bạn phát hiện thấy bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào của bệnh gan. Đặc biệt cần thiết phải bảo vệ tế bào gan càng sớm càng tốt, thậm chí ngay cả trong những trường hợp tổn thương chưa có các dấu hiệu bệnh lý.

Đặc biệt Linh chi là một loại thuốc quý trong kho tàng Đông dược, được mệnh danh là “Tiên thảo”. Các cuốn “ Thần nông bản thảo” đời Đông Hán và “ Bản thảo cương mục” của vị danh y nổi tiếng Lý Thời Trân cách đây 2000 năm đã ghi lại đầy đủ tác dụng tuyệt vời của Linh chi trong việc giải độc bảo vệ, phòng chống các tác nhân gây tổn thương tế bào gan, tăng cường chức năng Gan.

Muốn biết mình có bị bệnh gan hay không thì bác phải đi khám, làm các xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán bệnh như: Xét nghiêm chức năng gan, men gan, và điịnh lượng Bilirubin trong máu, siêu âm gan... Chúc bác sức khoẻ.
Bs Phạm Thanh Thuỷ

NGUYÊN NHÂN GÂY ĐAU VÙNG THÁI DƯƠNG


It bữa trước cháu đi hoc. khi đó trời còn hơi lanh. khi đến trường lúc cháu hơi cúi đầu xuống thôi mà thấy đau buốt vùng thái dường bên tay trại một lúc thôi ạ giờ mà cháu cứ lắc đầu manh. là y rằng lại đau chỗ đọ cháu không biết vì sao mong các cô các chú trả lời giúp a cháu cảm ơn
(Nguyễn Minh Tâm)
Đau vùng thái dương


Trả lời: 
Những nguyên nhân gây nên buốt thái dương:

1/ Đau cơ cân: Đau cơ nhai cũng là một nguyên nhân đau buốt rất hay gặp. Đau có liên quan đến việc tổn thương cũ, tiền sử chấn thương xương hàm mặt, hoặc hay gặp hơn cả là do tật nghiến răng. Khi đau cơ nhai, bệnh nhân thấy đau âm ỉ ở các vùng thái dương và trước dái tai, đau tăng khi cử động hàm hoặc nhai thức ăn. Nếu nghiến răng trong lúc ngủ, khi tỉnh dậy sẽ thấy cử động hàm dưới bị hạn chế. Triệu chứng chính là đau các cơ nhai, nhất là phần trước các cơ cắn và cơ thái dương.

2/ Đau khớp thái dương hàm: Nguyên nhân chính gây đau khớp thái dương hàm dưới là do di chuyển đĩa khớp và viêm khớp. Di chuyển đĩa khớp do chấn thương hàm cấp hoặc do bệnh nhân nghiến răng nhiều gây chấn thương nhỏ mạn tính làm cho đĩa khớp không bám chặt vào lồi cầu hàm dưới và trượt ra phía trước. Cũng thường thấy gặp có thể ngahe thấy tiếng lục cục mỗi khi mở miệng hoặc ngáp to, hoặc khi ngậm miệng lại đó là vì lôid cầu trượt đi trượt lại trên đĩa. Nếu khớp đĩa khớp lỏng lẻo, khi há miệng ra sẽ có hiện tượng “khóa hàm”: đau tại khớp hoặc vùng dưới dái tai khi mở miệng đòng thời hạn chế cử động miệng, hay gặp ở những bệnh nhân có khớp “kêu”. Đau khớp thái dương hàm hay gặp trong viêm khớp, thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp.

3/ Đau đầu từng chuỗi: thường gặp bệnh nhân bị đau đầu một bện dữ dội kèm theo có chảy nước mắt, nhức mắt, chảy nước mũi cùng bên, cơn đau kéo dài thành từng chuỗi trong ngày và hàng tuần liền.

4/ Viêm động mạch thái dương: Cũng là một nguyên nhân gây đau vùng thái dương, rất hay gặp ở phụ nữ tuổi trên, đây là hậu quả của viêm mãn tính các mạch máu ở sọ não, thường là động mạch thái dương. Khám thấy động mạch thái dương cứng, đau.

5/ Đau do yếu tố thần kinh: Đau dây thần kinh tam thoa, hay gặp ở phụ nữ tuổi trên 50, với đặc điểm cơn đau thường đột ngột, giật cơ vùng thái dương, bên má một bên, kèm theo đau tăng khi sờ vào vùng đau hoặc khi ăn. Thông thường cơn đau chỉ ngắn vài phút hoặc vài giây rồi hết đau hoàn toàn.

6/ Đau mặt không điển hình: Bệnh hay xảy ra ở nữ giới ngoài 40 tuổi. Triệu chứng chính là đau mặt nhẹ hàng vài tháng nhưng khám tai mũi họng, thần kinh không thấy tổn thương, bệnh thường gặp ở những bệnh nhân trầm cảm.

Để giải quyết triệt để hiện tượng đau buốt vùng thái dương, đầu tiên bạn nên đi khám, chẩn đóan nguyên nhân từ đó bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị tốt nhất cho bạn.

Chúc bạn thành công

HỎI VỀ TĂNG CHIỀU CAO SAU TUỔI ĐẬY THÌ

cháu mới 16 tuổi nhưng chiều cao chỉ có 1m48 cháu rất muốn cao lên và nhiều ngưòi đã bảo cháu nên uống sữa và uống thuốc tăng trưởng thì nó sẽ cao lên nhiều vậy điều đó có đúng không và cho chaú hỏi còn cách nào để phát triển chiều cao một cách tối ưu không
(lâm thị thu hương)
Con gái dậy thì sớm hơn con trai
Trả lời: 
Tuổi dậy thì (10-18 tuổi) là cơ hội cuối cùng để phát triển chiều cao. Ở con gái, vì thường dậy thì sớm hơn con trai, nên sau 16 tuổi chiều cao tuy vẫn còn tiếp tục tăng nhưng không nhiều và em còn có thể cao tới khoảng 20-22 tuổi.

Với chiều cao 1,48m ở tuổi 16 như vậy thì cũng khá "khiêm tốn". Để có thể cao hơn, em cần xây dựng một nếp ăn uống và lối sống lành mạnh như: ăn đủ chất, không bỏ bữa, ăn ít béo, ít ngọt, nhiều rau trái, uống 1-2 ly sữa ít béo như Obilac mỗi ngày, năng vận động và luyện tập. 

Chiều cao của con người ngoài yếu tố di truyền (70-75%), còn do hoàn cảnh sống (25-30%) quyết định, như chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập thể dục thể thao.

Trong giai đoạn cơ thể đang lớn, muốn phát triển chiều cao tốt, không nên ăn kiêng khem, cần ăn đa dạng để cơ thể được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng. Cần đặc biệt lưu ý ăn đủ lượng protein và canxi. Những thực phẩm giầu protein là thịt nạc, cá, trứng, sữa, các hạt họ đậu nhất là đậu nành... Thực phẩm giầu canxi là sữa, cá hộp nguyên xương, cá nhỏ kho dừ ăn được cả xương, tôm, cua, ốc, rau xanh...

Bạn đang trong lứa tuổi còn có thể phát triển chiều cao, cần chú ý ăn uống đầy đủ chất như đã nói trên; nếu có điều kiện thì uống thêm sữa bò, ăn nhiều rau quả tươi. Cần bảo đảm có giấc ngủ tốt và tập thể thao, chú ý những môn có tác dụng duỗi dài cột sống, vươn cao người như bóng chuyền, xà ngang, đánh đu, nhảy cao, nhảy xa, bơi lội...

Chúc bạn thành công!
Bs.Thuocbietduoc

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

NHỮNG BỆNH LÂY NHIỂM QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC


Thưa bác sĩ, thời gian qua em có quan hệ với vài người phụ nữ, em có sử dụng bao cao su khi quan hệ, nhưng cũng có một lần em không dùng bao với một người phụ nữ khác, nhưng những người này điều là nguời em biết và họ không phải là gái hay này kia bậy bạ. mỗi lần vừa quan hệ xong em điều rữa sạch bộ phận sinh dục rất kĩ, 2 hôm nay tự nhiên em bị nổi đỏ trên người, các vết nổi lan cũng hơi chập, nhưng nổi ngay vùng lưng một hai đốm, dứơi nách một vài đốm và dưới cánh tay một vài đốm, các đốm đỏ này hình dạng cũng hơi giống mề đay, màu đỏ hồng và đốm lớn thì có mủ nhỏ bên trong, giờ em cảm thấy hơi lo, không biết em có bị giang mai không, mong bác sĩ tư vấn dùm em nên làm gì và nên khám hay thử máu gì không ạ, thân thành cảm ơn bác sĩ.

(tran tuan)


Hình minh họa
Trả lời: 

Có khoảng hai chục loại bệnh lây qua đường tình dục (viết tắt là BLQĐTD). Trong các bệnh này, một số có thể lây qua đường khác như đường máu, mẹ truyền cho con khi có thai, khi cho con bú, nhưng tình dục là đường lây chủ yếu. Trước kia, chúng được gọi là “bệnh phong tình”, “bệnh hoa liễu”, nghĩa là bệnh của những người chơi bời trai gái, những người mại dâm. Ngày nay, do nhận thấy bệnh phổ biến trong mọi giới, không phân biệt quan niệm và hành vi đạo đức, ta chuyển sang cách gọi chính xác hơn là “BLQĐTD”.

Làm gì khi nghi ngờ hoặc biết mình mắc BLQĐTD ?

Khoảng một nửa số người nhiễm các BLQĐTD không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, bạn nên nghĩ là mình có thể mắc bệnh nếu:

- Vợ, chồng hay bạn tình của bạn có bệnh ở cơ quan sinh dục.

- Bạn đã quan hệ tình dục với một người mà bạn không biết chắc là có bệnh hay không.

- Cơ quan sinh dục của bạn có biểu hiện khác thường.

Sau đây là một số triệu chứng của nhiều loại bệnh:

- Dương vật hay âm đạo có tiết dịch bất thường.

- Cơ quan sinh dục ngứa, rát, đau, đỏ, có nốt, các vết loét.

- Tiểu đau, rát hoặc tiểu nhiều hơn bình thường.

Nếu có một trong những triệu chứng trên, bạn hãy khám ở cơ sở y tế chuyên khoa như viện phụ sản, trạm da liễu. Không được nghe ai đó khuyên mà mua thuốc tự chữa lấy, vì triệu chứng giống nhau không có nghĩa là cùng một bệnh. Nếu dùng thuốc không đúng, bệnh có thể trở nên không chữa được.

Khi bác sĩ cho đơn thuốc, bạn hãy dùng theo đúng chỉ dẫn, đúng liều, đủ thời gian, đừng bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc, bạn nên khám lại để biết đã hết bệnh chưa, nếu còn thì chữa tiếp. Điều quan trọng là chữa trị đến nơi đến chốn.

Bạn phải nói để vợ, chồng hay người yêu về bệnh tình của mình để họ đi khám và chữa bệnh. Hai bạn nên tạm ngừng sinh hoạt tình dục trong thời gian chữa bệnh, hoặc nếu có sinh hoạt thì phải dùng bao cao su. Nếu không chữa cả hai người và không dùng bao cao su, bệnh sẽ lây đi lây lại, chữa không dứt, bạn sẽ rất khổ. Vì sức khoẻ của cả hai người, hãy can đảm lên bạn ạ. 

Các BLQĐTD thông thường

* Trùng roi (trichomonas)

Khi nhiễm loại ký sinh trùng này, nam giới thường không có triệu chứng, chỉ một số ít người thấy dương vật tiết mủ, tiểu buốt. Bệnh ở nam giới thường tự hết mà không cần chữa trị, nhưng cũng có một số trường hợp trùng roi lan truyền sang tuyến tiền liệt, thậm chí gây vô sinh.

Đa số phụ nữ khi nhiễm trùng roi thì dịch âm đạo ra nhiều, màu vàng xanh, hôi, ngứa âm đạo, một số người còn đau khi tiểu tiện, giao hợp. Cũng có người mang trùng roi mà không có triệu chứng gì. Phụ nữ mang thai nhiễm trùng roi dễ đẻ non hoặc đẻ con thiếu cân.

Bác sĩ có thể phát hiện trùng roi và điều trị dễ dàng bằng kháng sinh đặc hiệu.

* Lậu và chlamydia 
Đây là hai bệnh hay đi kèm với nhau. Lậu và chlmaydia thường nhiễm vào cổ tử cung phụ nữ và đường tiết niệu nam giới, ngoài ra cũng có thể có ở trực tràng (bên trong hậu môn) và cổ họng. Đa số nam giới nhiễm các bệnh này đều có hiện tượng ra mủ ở dương vật, tiểu buốt. Nữ giới kém may mắn hơn, chỉ có một số ít phụ nữ tiết dịch âm đạo bất thường, tiểu buốt hoặc đau bụng dưới, còn đa số không có biểu hiện gì nên không biết mình bị bệnh.

Cả hai bệnh đều có thể gây ra những hậu quả tai ác. Nữ giới nhiều người vì không biết, không điều trị mà bị viêm phần phụ, đến lúc phát hiện thì đã bị tắc ống dẫn trứng, chửa ngoài tử cung. Nếu đang mang thai mà nhiễm các bệnh này, bạn nhất thiết cần đi khám bác sĩ chuyên khoa và xin lời khuyên về việc sinh đẻ, vì bệnh có thể lây sang bé khi bạn sinh. Cả hai bệnh đều có thể làm cho bé bị đau mắt, mù mắt nếu không điều trị kịp thời. Chlmaydia còn có thể làm cho bé bị viêm phổi. Nam giới bị một trong hai bệnh này nếu không điều trị sớm thì có thể viêm ống dẫn tinh và mào tinh, có khi dẫn đến vô sinh. Lậu không được điều trị còn có thể biến chứng đến các khớp xương, đến tim, đến não. 

Không phải tất cả những người bệnh mắc bệnh lậu khi xét nghiệm đều phát hiện ra bệnh, đặc biệt là nữ giới. Việc xét nghiệm Chlmaydia thì rất tốn kém và hiếm nơi có điều kiện thực hiện. Do đó, cách chữa phổ biến là chuẩn đoán bệnh lậu, sau đó điều trị đồng thời cả hai bệnh. Lậu và Chlmaydia có kháng sinh đặc biệt, nếu phát hiện khi chưa biến chứng thì có thể chữa không mấy khó khăn.

* Giang mai 

Giang mai là bệnh lây qua đường tình dục nguy hiểm, phát triển theo ba giai đoạn:

- Giai đoạn sớm: Khoảng 10-90 ngày sau khi nhiễm xoắn khuẩn, bạn có một vết loét dày ở bên ngoài hoặc bên trong cơ quan sinh dục hoặc ở hậu môn (cũng có khi trên cổ tử cung, miệng và những nơi khác). Vết loét thường không gây đau, không có mủ nên bạn có thể không để ý. Chúng tự biến mất trong khoảng 2-6 tuần. Bạn thường thấy hạch vùng bẹn to nhưng không đau.

- Giai đoạn hai: Nhiều tháng sau, bạn có thể có một vài triệu chứng như sốt, suy nhược cơ thể, người nổi các vết màu hồng đỏ gọi là đào ban (hết trong vòng vài tháng). Sau đó, các sẩn giang mai nổi cao trên mặt da. Các sẩn trợt, sẩn phì đại chứa rất nhiều vi trùng, xuất hiện ở các cơ quan sinh dục, hậu môn và miệng. Rất có thể bạn qua giai đoạn này mà không hề có triệu chứng.


- Giai đoạn muộn: Nếu không chữa trị, nhiều năm, thậm chí hàng chục năm sau, bệnh có thể biến chứng vào các cơ quan, gây các bệnh nghiêm trọng như bệnh tim, mù, điếc, liệt... và dẫn đến tử vong.

Ngoài đường lây chính là đường tình dục, giang mai còn có thể lây từ mẹ sang con trong khi mang thai và sinh nở, có thể dẫn đến thai chết lưu, trẻ bị dị tật bẩm sinh hoặc chết sau khi đẻ.

Có thể chẩn đoán bệnh bằng cách thử máu. Khi đã xác định là có bệnh, bạn phải chữa bằng thuốc đặc trị, liều lượng phụ thuộc vào mức độ bệnh.

* Mụn rộp sinh dục

Đây là bệnh do virus Herpes gây ra. Herpes có nhiều chủng, gây bệnh ở nhiều nơi trên cơ thể, như trên môi, trong miệng, ở các khe. Riêng chủng HSV-2 thường nhiễm vào cơ quan sinh dục. Đa số người nhiễm không có biểu hiện gì, chỉ một số bệnh nhân có triệu chứng. Triệu chứng khi mới nhiễm là sốt, đau đầu, mệt mỏi, tiểu đau, âm đạo hay đường tiết niệu tiết dịch nhiều, sưng hạch ở háng, cơ quan sinh dục và hậu môn nổi lên các nốt mụn rộp, rất ngứa và rát.

Sau đó, các triệu chứng tự mất đi, các nốt mụn tự lành, nhưng virus còn tồn tại trong cơ thể bạn suốt đời. Thỉnh thoảng, bạn lên mụn rộp, sau đó lành, rồi một thời gian lại xuất hiện mụn mới. Khi bạn làm việc quá căng thẳng, suy nghĩ nhiều, ốm đau, virus có thể bị kích thích mà tái hoạt động, làm phát sinh các mụn rộp. Virus ở cơ thể bạn có thể lây sang người khác khi bạn đang có mụn và trong thời gian một, hai ngày trước và sau khi có mụn.

Ở nam giới, bệnh này chỉ khó chịu chứ không gây tác hại lớn. Nhưng ở nữ giới, bệnh có thể truyền cho con khi bạn mang thai, sinh đẻ, có thể gây đẻ non. Đứa trẻ sinh ra sẽ yếu hoặc nhiễm bệnh nặng nguy hiểm đến tính mạng, bị các dị tật thần kinh bẩm sinh.

Bác sĩ có thể cho thuốc để mụn đỡ đau, mau lành, nhưng không có thuốc nào loại trừ được virus, chữa khỏi bệnh cho bạn được.

* Virus papilloma

Đây là một loại virus thường gặp. Một số chủng papilloma gây mụn cơm ở tay, chân, một số chủng khác lây qua đường tình dục. Nhiều người nhiễm mà không có biểu hiện gì, nhưng cũng có nhiều người (cả nam và nữ) phát bệnh sùi mào gà.

Khoảng 1-6 tháng sau khi nhiễm virus, ở cơ quan sinh dục xuất hiện các nốt sùi, nếu lớn thì trông như mào gà. Phụ nữ mang thai nếu có sùi trong âm đạo thì việc sinh nở có thể rất khó khăn vì các nốt sùi cản đường ra của bé, đồng thời bé có thể nhiễm virus của bạn. 

Bác sĩ thường xử lý các nốt sùi bằng cách bôi hoá chất, áp nitơ lỏng, cắt... Đáng buồn là không có thứ thuốc nào giúp bạn loại bỏ được thứ virus này, nên dù đã chữa rồi, sùi vẫn có thể mọc lên.

Một số chủng papilloma có thể gây ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật, dù bạn có biểu hiện sùi mào gà hay không. Vì loại virus này khá phổ biến nên bác sĩ khuyên rằng những phụ nữ đã sinh hoạt tình dục hoặc trên 25 tuổi nên làm phiến đồ âm đạo định kỳ để phát hiện sớm các tế bào tiền ung thư, điều trị cho kịp thời, nhất là nếu bạn bị sùi mào gà. Các bạn nam nếu bị sùi mào gà cũng nên khám dương vật định kỳ vì mục đích đó.

* Bệnh hạ cam

Bệnh này do trực khuẩn Ducrey gây ra. Triệu chứng là những vết loét đau, có mủ ở bên ngoài hoặc bên trong cơ quan sinh dục hoặc ở hậu môn, thường kèm theo nổi hạch ở bẹn. Nếu chỉ bị loét bên trong thì bạn không nhìn thấy vết loét, nhưng có thể tiểu buốt, đau khi đi ngoài và khi giao hợp, tiết dịch bất thường, chảy máu ở hậu môn. Bệnh có kháng sinh đặc hiệu.

* Rận mu

Rận mu là ký sinh trùng sống ở lỗ chân lông vùng sinh dục, gây ngứa ngáy rất khó chịu, và lây qua quan hệ tình dục. Nếu bạn bị rận mu, bạn có thể cạo lông vùng sinh dục để loại bỏ rận. Bạn sẽ ngứa ngáy khó chịu khi lông mọc trở lại. Một cách điều trị đơn giản hơn là bôi thuốc DEP, cũng rất hiệu quả.

* Ghẻ

Ghẻ là ký sinh trùng ăn vào da, gây ngứa ngáy. Ghẻ lây qua bất cứ hình thức tiếp xúc da nào, có thể sinh sống ở bất cứ nơi nào trên da. Nếu bị nhiễm ghẻ ở khu vực sinh dục, bạn có thể truyền bệnh cho bạn tình. Để điều trị, bạn hãy bôi thuốc DEP, chú ý vệ sinh quần áo, chăn chiếu, đồng thời điều trị cho những người khác trong gia đình.

Bệnh không phải ở hệ sinh dục mà lây qua đường tình dục

* Viêm gan B

Virus viêm gan B gây bệnh ở gan nhưng lây qua dịch sinh dục và qua máu. Bạn có thể nhiễm virus mà không có biểu hiện gì. Cũng có thể sau khi nhiễm từ 6 tuần đến 6 tháng, bạn phát bệnh gan, có các triệu chứng như mệt mỏi, đau đầu, tiểu sẫm màu. Bệnh có thể trở thành mạn tính, gan yếu dần, có thể dẫn đến xơ gan, ung thư gan và tử vong.

Tốt nhất, bạn hãy đi thử máu để biết mình có nhiễm virus viêm gan B không. Nếu không, bạn hãy tiêm vacxin phòng bệnh ngay để không bao giờ mắc phải căn bệnh tai ác này. Còn nếu bạn là người mang mầm bệnh viêm gan B, hãy lưu tâm phòng ngừa cho người khác. Bệnh viêm gan B không có thuốc đặc hiệu. 

Nếu nhiễm virus này khi đang có thai, bạn hãy cho bác sĩ biết để tiêm chủng cho con bạn ngay sau khi sinh.

* HIV/AIDS

Căn bệnh này phá hoại sức đề kháng, cướp đi mạng sống con người, hiện y học còn chưa tìm ra cách trị. Bệnh đang lan ra trong mọi giới của xã hội. 

Các bạn trẻ cần phải ý thức được một điều: Chẳng có một thứ bệnh tình dục nào là chính đáng. Các căn bệnh này cũng không phải là sự trả giá cho thứ sinh hoạt tình dục phóng đãng. Trong số những người mắc bệnh tình dục nói chung, có rất nhiều người đứng đắn và nghiêm túc trong quan hệ tình dục. Họ mắc bệnh chỉ vì một lần nào đó ngẫu nhiên chung chạ “chút đỉnh” với một người đàn bà hoặc một người đàn ông không quen biết. Cũng có những bệnh nhân là một người trẻ tuổi, nông nổi, không đủ sức cưỡng lại một cơ hội thuận tiện. Còn đại đa số là người quá thiếu lý trí trong đời sống tình dục. 

Trước những mối đe dọa trong đời sống tình dục của con người, chúng tôi khuyên rằng, nếu giao tiếp tình dục với một người mà mình chưa biết rõ, hãy sử dụng bao cao su. Chiếc bao giản dị này không chỉ ngăn chặn sự truyền nhiễm AIDS mà còn ngăn chặn được tất cả các thứ bệnh đường sinh dục khác.

Bạn cần đi khám để được chẩn đoán bệnh chính xác và có tư vấn điều trị hiệu quả!