Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

ĐÔNG Y CHỮA BỆNH Ù TAI

Chứng tai ù, tai điếc phần nhiều đều có liên quan đến can và thận mà quan hệ với thận thì nhiều hơn.

Tai ù thì nghe như tiếng ve kêu hoặc nhỏ hoặc to; khi mệt quá hoặc giận dữ thì tai càng ù mạnh. Chứng này có hư, có thực; hư thì thấy có triệu chứng đầu choáng, mắt hoa, tim rung động, eo lưng nhức, lưỡi đỏ nhợt, mạch tế; thực thì có cả các hiện tượng đau nhức, mặt đỏ, hay giận, lòng buồn bực, ít ngủ, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng nóng. Mạch huyền.

Tai điếc phần nhiều do tai ù lâu mà thành ra không nghe tiếng động bên ngoài. Tai điếc cũng có chứng hư, chứng thực khác nhau, còn chứng trạng kèm theo cũng giống như tai ù.

Người già tai điếc là vì tinh khí không đủ, phần nhiều do hạ nguyên suy yếu. Còn như tự nhiên bị điếc, phần nhiều thuộc can đởm bị hỏa nhiễu động lấp thanh khiếu.

Sau đây là những bài thuốc thường dùng để trị chứng bệnh này.

Ngũ linh tả từ hoàn: Địa hoàng 12g, phục linh 10g, đơn bì 8g, ngũ vị tử 8g, trạch tả 6g, sơn thù 8g, sơn dược 8g, từ thạch 4g, nước 800ml sắc còn 200ml, uống ấm. Nếu làm hoàn thì tăng liều lượng gấp 3 – 4 lần tán bột hòa với mật ong giã nhuyễn viên như quả táo. Ngày uống 2 lần sáng và tối với nước ấm, mỗi lần uống 2 viên.

Đại bổ âm hoàn: Hoàng bá 12g, tri mẫu 12g, thục địa 16g, quy bản 16g, tán nhỏ hòa với tủy xương sống lợn và mật ong làm viên bằng hạt táo. Ngày uống 2 lần sáng tối với nước ấm, mỗi lần 2 viên.

Bổ cốt chỉ hoàn: Để chữa hạ nguyên hư tổn nên cần ôn bổ thận dương. Thuốc: từ thạch 4g, thục địa 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, nhục quế 4g, thỏ ty tử 10g, xuyên tiêu 6g, bổ cốt chỉ 12g, bạch tật lê 8g, hồ lô ba 8g, đỗ trọng 12g, bạch chỉ 8g, xương bồ 8g, nước 600ml sắc còn 200ml uống ấm sáng tối. Nếu làm hoàn thì tăng liều lượng, tán nhỏ hòa mật ong làm viên bằng hạt táo, ngày uống 2 viên vào sáng và tối với nước ấm.

Hà xa đại tạo hoàn: Dùng cho người già tai điếc. Thuốc: tử hà xa (nhau thai) 1 cái, đảng sâm 24g, thục địa 24g, đỗ trọng 24g, ngưu tất 24g, thiên môn 16g, mạch môn 16g, quy bán 20g, hoàng bá 16g, phục linh 20g, giã nhuyễn làm hoàn. Ngày uống 2 lần mỗi lần 10g, uống với nước ấm.

Nếu do hỏa của can đởm nhiễu động thì nên thanh can, tá hỏa. Dùng 2 bài: sài hồ thanh can tán và long đởm tả can thang.

Sài hồ thanh can tán: Sài hồ 12g, sinh địa hoàng 12g, xích thược 10g, ngưu bàng tử 8g, đương quy 12g, liên kiều 8g, xuyên khung 10g, hoàng cầm 8g, sinh chi tử 10g, thiên hoa phấn 8g, phòng phong 8g, cam thảo tiết 4g. Sắc uống trong ngày.

Long đởm tả can thang: Long đởm thảo 8g, hoàng cầm 10g, mộc thông 12g, xa tiền tử 10g, đương quy 12g, sinh địa 12g, sài hồ 8g, cam thảo 4g, trạch tả 10g, sơn chi tử 8g. Sắc uống ngày một thang.

Day bấm huyệt chữa ù tai: Chữa ù tai các huyệt thường dùng để day bấm chữa ù tai là: huyệt thích cung, huyệt nhĩ môn, huyệt thích hội ở tai, huyệt quan xung, dịch môn, trung chỉ ở bàn tay.

Huyệt thích cung: Ở chỗ lõm giữa nếp tai và khớp hàm dưới khi miệng hơi há.

Huyệt thính hội: Ở phía trước dưới nắp tai, phía trước rãnh dái tai, huyệt ở chỗ lõm khi há miệng.

Huyệt nhĩ môn: Khi há miệng huyệt nằm ở chỗ lõm phía trước khe trước vành tai và hơi chếch lên trên mỏm lồi cầu xương hàm dưới.

Huyệt quan xung: Ở mé trụ ngón tay đeo nhẫn cách góc móng tay 0,1 tấc về phía sau.

Huyệt dịch môn: Cách 0,5 tấc kẽ ngón tay đeo nhẫn và ngón tay út 

Huyệt trung chữ: Về phía mu tay, giữa các đốt xương bàn tay 4 và 5 ở chỗ lõm phía sau khớp xương bàn tay ngón tay.

Chú ý: Khi ấn các huyệt nên dùng đầu ngón tay cái hoặc ngón trỏ với lực vừa thỏa đáng cho tới khi thấy bớt đau thì dừng lại. Hằng ngày nên day bấm các huyệt trên nhiều lần mỗi lần 5 – 6 phút là được.
Tác giả: Lương y Minh Chánh
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

CHỮA MẨN NGỨA TỪ CÂY LÁ

Nước sắc lá ba chạc: Hái một nắm lá to cả cành non cây ba chạc, khoảng 50-100g, để tươi, rửa sạch, đun sôi với 4-5 lít nước trong 30 phút đến 1 giờ. Đợi khi nước ấm, đem tắm, lấy bã xát mạnh vào các nốt ngứa ghẻ. Ngày làm một lần.

Lá cỏ lào, lá cúc tần, rễ bạch hoa xà cũng nấu và sử dụng như trên.

Cao lá cơi: Lấy 1kg lá cơi cả cành non, băm nát, nấu với 5-6 lít nước. Đun sôi liên tục trong 24 giờ. Vớt bỏ cành và lá, nước còn lại tiếp tục đun cho đến khi sánh đặc như cao.Khi dùng, lấy tăm bông sạch nhúng vào thuốc bôi lên tổn thương. Ngày làm hai lần.

Hạt, thân giã nhỏ, nấu thành cao đặc, rồi chế thuốc mỡ 10%, bôi cũng rất tốt.

Cồn thuốc chẽ ba: Chọn những đoạn thân cây chẽ ba có đường kính 1,5-2cm và mọc cách mặt đất 1-2cm. Chặt từng khúc 20-25cm, đặt lên bếp lửa cho cháy sém lớp bần bên ngoài. Cạo sạch lớp cháy sém, dùng dao róc lấy vỏ thân rồi tước thành sợi. Lấy 80-100g sợi thuốc cho vào chảo đã đốt nóng già, đảo đều trong 5-10 phút. Đổ cồn 70o vào cho xâm xấp, đảo tiếp trong 5-10 giây. Lấy thuốc ra, vò nát rồi xát vào nốt ghẻ ngứa. Ngày làm 2-3 lần trong 5 ngày liền. Thuốc không làm bẩn da, không gây kích ứng, lại có mùi thơm đặc biệt.

Cồn chiết từ 100g bột rễ cây cúc trừ trùng ngâm với 500ml cồn 80o hoặc cồn ngâm rễ bạch hoa xà với cồn 70o, bôi cũng có tác dụng tốt.

Dầu hạt máu chó: Hạt máu chó được thu hái ở quả chín, phơi khô. Khi dùng, đập vỡ vỏ hạt, lấy nhân. Đem nhân giã thật nhuyễn, thêm muối đã rang khô với tỷ lệ 10%, trộn đều. Đồ như đồ xôi, rồi ép nóng lấy dầu. Dầu hạt máu chó có màu đỏ sẫm, mùi hắc, rất sánh. Hoặc lấy 50g nhân hạt giã nhỏ, cho vào 200ml rượu 35-40o. Đun sôi nhỏ lửa cho bốc hơi rượu đến khi được một cắn sền sệt. Có thể chế đơn giản như sau: Lấy 10 hạt máu chó, đập vỡ vỏ ngoài lấy nhân, giã nhuyễn, trộn với 10-20ml dầu lạc, dầu vừng, dầu quả dọc hoặc mỡ lợn, đun sôi trong 10-15 phút, lọc, để nguội.

Nếu dùng phối hợp thì lấy hạt máu chó với hạt củ đậu, củ nghệ (lượng mỗi thứ bằng nhau) và diêm sinh (bằng nửa lượng của mỗi vị trên), tán nhỏ mịn, hòa với dầu vừng hoặc mỡ lợn. Cách khác: Hạt máu chó với hạt củ đậu và quả bồ hòn hoặc nấu cao hạt máu chó với dầu thầu dầu, bột hoàng nàn và bột long não.

Khi dùng các dạng dầu nêu trên, cần bôi thật mỏng để tránh mưng loét. Nếu dùng dầu nguyên ép từ hạt, cũng phải pha loãng để không bị kích ứng mạnh.

Nhựa và tinh dầu thông: Tinh dầu được dùng nhiều hơn. Có thể cất tinh dầu từ lá, quả hoặc nhựa cây. Khi dùng, lấy tinh dầu hoặc nhựa bôi một lớp thật mỏng lên nốt ghẻ ngứa sau khi đã xát rửa sạch sẽ. Ngày bôi hai lần. Không bôi dày quá, vết thương dễ bị mưng to vì tính kích ứng gây phồng da của tinh dầu và nhựa thông, nhất là ở những chỗ da mỏng. Tính chất kích ứng của nhựa thông kém hơn 4 lần so với tinh dầu. Các nhà khoa học đã nghiên cứu thấy những người khai thác nhựa thông thường ít bị bệnh ngoài da do ảnh hưởng của hơi tinh dầu bốc lên từ nhựa.

Tác giả: DS. Hữu Bảo

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

TẮM CÓ TRỊ ĐƯỢC BỆNH


Dược dục liệu pháp là gì?

Về cơ bản, có thể hiểu dược dục liệu pháp là phương pháp cho thêm vào nước thường hoặc trực tiếp sử dụng dịch thuốc Y học cổ truyền làm nước để tắm rửa toàn thân hay cục bộ nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Đây là một trong những phương pháp chữa ngoài của Y học cổ truyền (ngoại trị) được tiến hành theo lý luận của Đông y, kết hợp tác dụng của hai liệu pháp: thủy trị liệu và dược vật trị liệu. Về danh pháp tiếng Việt, xin tạm gọi là phương pháp tắm thuốc.
Ảnh minh họa (corbis)
Dược dục liệu pháp có từ bao giờ?

Dược dục liệu pháp có một lịch sử rất lâu đời. Ở Trung Quốc, sách “Lã ký” đã viết: “Đầu hữu nang tắc mộc, thân hữu bệnh tắc dục” (đầu bị lở loét nên gội, thân mình có bệnh nên tắm). Y thư cổ “Hoàng Đế nội kinh” cũng đã bàn đến dược dục liệu pháp trong nhiều chương mục. Ví như chương “Âm dương ứng tượng đại luận” đã viết: “Kỳ hữu và giả, tứ hình dĩ vi hãn”, ý muốn nói: nếu bị ngoại tà xâm nhập nên tắm ngâm làm cho ra mồ hôi để tà khí theo đó mà ra ngoài. Đặc biệt, trong những y thư chuyên khảo về vấn đề này phải nói đến cuốn “Lý thược biền văn” của y gia Ngô Sư Cơ, đại biểu lỗi lạc của dược dục liệu pháp. Tác phẩm này đã đề cập một cách có hệ thống từ cơ sở, lý luận đến kinh nghiệm thực tiễn trong việc vận dụngdược dục liệu pháp để điều trị khá nhiều chứng bệnh thuộc các chuyên khoa, với 79 phương thuốc tắm ngâm độc đáo.

Ở nước ta, kinh nghiệm dân gian sử dụng dược dục liệu pháp cũng khá phong phú. Việc dùng nước sắc cây cỏ tắm ngâm để điều trị các chứng thấp khớp, dị ứng lở ngứa, trĩ hạ… cũng đã được lưu truyền trong dân gian từ rất sớm. Trong các tác phẩm của mình, danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng đã ghi chép lại khá nhiều các kinh nghiệm sử dụng dược dục liệu pháp trong phòng chống bệnh tật và bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, chúng ta không có những y thư chuyên bàn về vấn đề này một cách có hệ thống.

Dược dục liệu pháp có mấy loại?

Tùy theo phần thân thể ngâm trong dịch thuốc nhiều hay ít người ta thường chia làm 3 loại: toàn thân dược dục, bán thân dược dục và cục bộ dược dục.

Toàn thân dược dục: là cách ngâm toàn bộ cơ thể trong dịch thuốc được chứa trong bồn có dung tích 250-300 lít từ 20-30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Thường dùng cho các bệnh lý nội khoa và da liễu.

Bán thân dược dục: là cách ngâm nửa dưới cơ thể trong dịch thuốc, bệnh nhân ngồi tới rốn. Mỗi lần ngâm trong 20 -30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Loại này thường dùng cho các bệnh lý chi dưới như: viêm khớp gối, viêm tắc động mạch chân, liệt bại hai chân.

Cục bộ dược dục: là cách ngâm chi thể hoặc một bộ phận của cơ thể trong dịch thuốc hay tiếp xúc với dịch thuốc nhiều lần. Tùy theo cách thức và bộ phận được ngâm khác nhau mà phân thành nhiều loại ngâm như: tay, chân, ngâm tứ chi, ngâm đầu, rửa mắt, rửa mặt… ví dụ ngâm chân (tức dục) là loại bình thường dùng trên lâm sàng, được chia làm 2 hình thức, ngâm chân thấp và ngâm chân cao.

Cơ chế tác dụng dược dục liệu pháp

Dược dục liệu pháp tác động lên cơ thể thông qua 2 yếu tố: tác dụng của thuốc và tác dụng của nước.

Trải qua quá trình bào chế, đun nấu các loại chất có tác dụng chữa bệnh trong dược liệu sẽ hòa tan vào nước hoặc tỏa ra theo hơi nước tác động trực tiếp lên da và niêm mạc hoặc ngấm vào trong cơ thể phát huy tác dụng chữa bệnh. Tác động trực tiếp bên ngoài thường được ứng dụng cho các bệnh lý ngoài da, bệnh vùng hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài, bệnh mắt, các thương tổn phần mềm do sang chấn… nhờ khả năng sát khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, chống phù nề, chống ngứa… của dịch thuốc. Hoạt chất ngấm vào trong cơ thể thông qua 2 con đường: ngấm qua niêm mạc mũi miệng do hít hơi thuốc và thẩm thấu qua da. Tác động bên trong chủ yếu được ứng dụng cho các bệnh lý nội khoa. Tuy nhiên, cả 2 con đường tác động bên ngoài và tác động bên trong ít khi thực hiện riêng rẽ mà thường hiệp đồng tương hỗ với nhau.

Nước tác động lên cơ thể nhờ 2 yếu tố: nhiệt độ và áp lực. Độ ấm của dịch thuốc có tác dụng làm giãn mạch toàn thân và tại chỗ, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hấp thu của da, làm giảm cơ và giảm đau. Đối với các vết thương xung huyết kỳ đầu nếu ngâm trong dịch thuốc lạnh có khả năng làm co mạch và giảm xuất tiết. Áp lực của nước có tác dụng xoa bóp các bộ phận được ngâm, thúc đẩy quá trình hồi lưu của máu và dịch bạch huyết, làm giảm sưng nề và giảm đau.

Ngoài ra, theo quan niệm của Y học cổ truyền, dịch thuốc còn tác động lên các huyệt vị châm cứu, phối hợp với các động tác xoa bóp khi ngâm sẽ giúp cho cơ thể điều chỉnh cân bằng âm dương, phục hồi công năng của các tạng phủ và làm lưu thông huyết mạch.

Những vấn đề cần chú ý

Thực tế cho thấy, dược dục liệu pháp có tính an toàn cao và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên, trong khi thực hành cần chú ý mấy điểm sau đây:

Những người bị bệnh cao huyết áp, xơ vữa động mạch, suy mạch vành, u mạch máu, suy tim, tiền sử đã bị nhồi máu cơ tim, cơ địa đã xuất huyết không nên tắm, ngâm toàn thân trong dịch thuốc có nhiệt độ trên 390C.

Phụ nữ đang hành kinh và người bị dị ứng với dịch thuốc không nên thực hành dược dục liệu pháp.

Trước và sau bữa ăn ít nhất 30 phút không nên tắm ngâm toàn thân. Trước khi ngủ không nên thực hành

Dược dục liệu pháp. Chú ý tránh tắm ngâm quá lâu, mùa đông cần đề phòng cảm lạnh.

Tác giả: ThS. Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

CHỮA BỆNH TỪ CÂY DÂU

Việc vội vàng động phòng khi kinh nguyệt chưa dứt dễ sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm. Nên dùng lá dâu già và lược gãy, nệm rách, tóc rối lượng bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng 12 g) với nước nóng thì khỏi.

Bổ huyết, dưỡng huyết 
Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập đến trong nhiều y thư cổ. Uống ba tháng thì thân thể mọc đầy mụn do sức thuốc đẩy ra; sau đó khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng. Nếu uống liên tục nửa năm, khí lực trở nên mạnh mẽ, bệnh tật dần dần tiêu tan. Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, rõ tai, sáng mắt, tinh thần khoan khoái, tăng thêm tuổi thọ.
Chọn lá dâu non, hái lúc mặt trời mọc, rửa sạch bụi phấn, phơi nắng cho khô. Vừng đen phân nửa, xát tróc vỏ, đem đồ chín “cửu chưng cửu sái” (có nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi), cùng lá dâu tán bột, có thể đem xay nhỏ, cho luyện mật làm thành viên hoàn.
Cũng hai vị thuốc này, Tuệ Tĩnh còn dùng nấu với nước vo gạo để gội đầu, chỉ 7 lần mà tóc dài được vài “thước”! Nếu đúng như vậy thì bài thuốc này có tác dụng kích thích mọc tóc.

Chữa thong manh, đau mắt
Tuệ Tĩnh cũng giới thiệu dùng chữa chứng thong manh bằng lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than, nấu lấy nước mà rửa mắt. Xưa có người thong manh đến 20 năm mà đã chữa khỏi bằng bài thuốc này.
Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng chạp, hãm lấy nước mà rửa hàng ngày.

Chữa hen suyễn lâu ngày
Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu sao mật, các vị tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi. Bài thuốc này được Tuệ Tĩnh cho là rất hay.

Chữa huyết áp cao

Cây dâu
Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Đem cá diếc bỏ vào châu pha nước muối cho nhả hết nhớt, không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu mà ăn.
Hoặc: Vỏ rễ dâu 15,5 g, sinh địa 9 g, hoài sơn (củ mài) 15,5 g, phục linh 6 g, mẫu đơn bì 9 g, tri mẫu 15,5 g, sa sâm bắc 15,5 g, táo ta 10 g, mai rùa 10 g, thạch xương bồ 6 g, huyền sâm 15,5 g, đương quy 6 g, hà thủ ô đỏ 10 g, hoàng cầm 6 g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục 2-3 tháng.
Hoặc: Trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hàng ngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích hợp với người già bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần… Đặc biệt là người tăng huyết áp bị chứng “trên bảo dưới chẳng chịu nghe” thì cũng nên dùng.

Tẩy sán 
Lấy dao tre cạo lấy vỏ trắng ở cành dâu 3 nắm, nước 3 bát sắc lấy 1 bát. Tối hôm trước phải nhịn ăn, sáng mai bụng đói thì uống, sán sẽ xuống hết. Uống 2-3 lần.

Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục
Tổ bọ ngựa trên cây dâu, mỗi lần chỉ cần một cái nướng khô, tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, nặng thì uống 2-3 lần là khỏi. Chuyên trị chứng “cao lâm” tiểu buốt. Ngài tằm bỏ đầu, chân, cánh, sấy khô, tán nhỏ, giã với cơm vo thành viên bằng hạt ngô đồng, uống với nước muối lúc đói, chữa được nước tiểu đục, trắng.

Chữa viêm họng
Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá, giã nhỏ, lấy lụa bọc lại thành viên, tẩm mật ngậm, có tác dụng chữa bệnh viêm họng.

Đọt dâu non một nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, lấy giấy dấp nước đắp ngoài, khi khô lại thay, hết viêm thì thôi.

Chữa thiếu máu, mất ngủ

Quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), mỗi ngày pha nước uống. Uống liên tục trong nhiều ngày càng tốt. Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.


Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

THUỐC CHO QUÝ ÔNG


Dương thận vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, thường được dùng để chữa các chứng thận lao hư tổn, lưng đau gối mỏi, tai ù, tai điếc, liệt dương, di hoạt tinh, yếu sinh lý, đi tiểu đêm nhiều lần... Dương thận thường được sử dụng dưới dạng kết hợp với một số thực phẩm hay dược liệu để chế biến thành những món ăn - bài thuốc hấp dẫn vừa có công dụng bổ dưỡng lại vừa có tác dụng phòng chống bệnh tật. Dưới đây, xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Bài 1: Dương nội thận 1 quả, thịt dê 60g, lá Kỷ tử 250g (có thể thay bằng Kỷ tử 100g), Gạo tẻ 60 - 90g, Hành củ và gia vị vừa đủ. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; thịt dê rửa sạch, thái quân cờ; sắc kỹ Kỷ tử rồi bỏ bã lấy nước, cho Thận và Thịt dê vào ninh nhừ với Gạo thành cháo, nêm gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày. 

Công dụng: Bổ thận âm, ích thận khí, tráng nguyên dương, dùng trị các chứng lưng đau gối mỏi, tai ù, di niệu do thận hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 2: Dương nội thận (tinh hoàn) 1 quả, Nhục thung dung 30g. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; Nhục thung dung tẩm rượu một đêm rồi thái lát, đem hầm cùng với dương thận, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, nhuận tràng thông tiện, dùng cho những người bị liệt dương, yếu sinh lý, táo bón do mệnh môn hỏa suy.

Bài 3: Dương ngoại thận 1 đôi, nước hầm xương lợn 1 bát, tủy lợn một đoạn, gia vị vừa đủ. Dương ngoại thận rửa sạch, thái miếng; đun nước hầm xương lợn cùng với gia vị và tủy lợn trong 15 phút, sau đó cho dương ngoại thận vào đun thêm chừng 3 phút là được, múc ra bát, ăn nóng. 

Công dụng: Ích tinh, trợ dương, bổ thận, được dùng để chữa các chứng muộn con, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, đau lưng mỏi gối, suy giảm ham muốn tình dục, suy nhược cơ thể...

Bài 4: Dương nội thận 1 đôi, Nhục thung dung 25g, Thảo quả 5g, Trần bì 5g, Mỡ dê 100g, gia vị vừa đủ. Thận dê làm sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; mỡ dê thái miếng; sắc kỹ các vị thuốc rồi bỏ bã lấy nước, đem hầm với thận và mỡ dê, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ôn trung kiện tỳ, nhuận tràng thông tiện, được dùng để chữa các chứng liệt dương, di hoạt tinh, đau lưng mỏi gối, tay chân lạnh, táo bón do thận dương hư.

Bài 5: Dương ngoại thận 1 đôi, Nhung hươu 3g, Rượu trắng 500ml. Dương ngoại thận tươi (lấy từ dê núi là tốt nhất), rửa sạch huyết rồi đem ngâm cùng Nhung hươu với Rượu trắng chừng 15 ngày là được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, kiêng hành, gừng, tỏi và hạt tiêu. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng để chữa chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...

Bài 6: Dương nội thận 1 quả, Bạch tật lê sao qua 120g, Long nhãn 120g, Dâm dương hoắc 120g, Tỏa dương 120g, Ý dĩ 120g. Tất cả đem ngâm với rượu trắng chừng 15 ngày, mỗi ngày uống 20ml. 

Công dụng: Ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, khu phong trừ thấp, dùng trị các chứng liệt dương, di mộng tinh, tinh lạnh, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc ở người già do thận hư.

Theo quan niệm của Y học cổ truyền, một trong những chức năng quan trọng của tạng thận là chủ về sinh dục. Dê lại là một trong những loài động vật có khả năng hoạt động sinh dục mạnh mẽ và bền bỉ, bởi vậy, quả thận và tinh hoàn của dê đã được người xưa sử dụng làm thức ăn và làm thuốc để chữa trị các chứng bệnh thuộc hệ sinh dục từ rất sớm. Đây là một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng học thuyết “dĩ tạng bổ tạng”, “dĩ tạng liệu tạng” (lấy tạng để bồi bổ và chữa bệnh của tạng) trong Y học cổ truyền.

Tác giả: Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Theo Suc khoe & Doi song

CÁCH CHỮA BỆNH GAN

Nhó đông (Morinda longissima Y.Z.Ruan) thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang rải rác ở ven rừng thứ sinh hoặc ở trên nương rẫy cũ với độ cao dưới 800m. Thường gặp ở Sơn La, Lào Cai, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế.
Bộ phận dùng làm thuốc của cây nhó đông là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu có vị đắng, màu vàng, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, hoạt huyết, tiêu viêm, tán ứ, chữa viêm gan, vàng da, xơ gan, được dùng dưới các dạng thuốc sau:
- Nước sắc: dược liệu nhó đông 20 - 30g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Rễ nhó đông tốt cho gan 1
- Cao mềm: lấy 1kg rễ nhó đông thái mỏng, đổ nước xâm xấp, nấu kiệt làm 2 lần. Lần thứ nhất nấu trong 6 - 8 giờ, rút nước. Lần thứ hai trong 3 - 4 giờ. Trộn hai nước lại cô nhỏ lửa thành cao mềm. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 - 4g.
Ngoài ra, còn dùng dạng cốm được bào chế từ cao nhó đông trộn với đường. Thuốc giúp người bệnh ăn ngủ tốt, hết vàng da, vàng mắt, đầy bụng.
Đồng bào ở xã Chiềng An, thị xã Sơn La còn dùng rễ hoặc thân già (phần sát gốc rễ của cây nhó đông phối hợp với rễ cây hé mọ (Psychotria) để chữa viêm đại tràng với kết quả tốt.
Nguồn: suckhoedoisong.vn

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

LÀM SAO BIẾT THẬT GIẢ MÀ LƯỜNG


Mật ong
Nhận dạng: đó là một chất lỏng, sánh, màu trắng đục, vàng nhạt hoặc vàng sẫm, thơm đặc trưng của mùi mật ong, vị ngọt dịu, để lâu thành ngọt đậm, khé cổ, có đường kết tinh ở dưới gọi là châu.

Cách thử để phát hiện thật giả
Nhỏ vài giọt mật ong lên giấy thấm hoặc giấy bản, nếu là mật ong thật sẽ không có vết loang xung quanh giọt mật. Ngược lại, vết loang nhanh và rộng là mật có pha trộn.

Nhỏ một giọt mật ong vào cốc nước trong, nếu giọt mật lắng ngay xuống đáy cốc với hình dạng nguyên vẹn là mật ong thật.

Lấy một phần mật ong hòa đều với phần nước lọc, để yên. Mật ong nguyên chất phải có dung dịch trong suốt. Nếu bị pha trộn, mật sẽ có cặn lắng dưới đáy dung dịch.

Nhỏ vài giọt iod vào mật ong, khuấy đều. Mật nguyên chất không biến màu. Nếu bị trộn nước cháo hoặc nước cơm, mật sẽ có màu xanh lơ; nếu có màu đỏ là mật đã lẫn nước màu.

Xạ hương
Nhận dạng: túc xạ có hình cầu hoặc hình bầu dục, tròn hoặc dẹt, đường kính 3,5-6cm, nặng 30-60g tùy theo tuổi của hươu xạ. Miệng túi hơi phẳng, có nhiều lông mịn, màu trắng hoặc nâu xám, mọc rất sít nhau hoặc áp sát thành hình khoáy, ở giữa có một lỗ nhỏ, đường kính 5mm, khi cạo sạch lông thì phần da ở đó có màu nâu. Mặt ngoài của túi màu nâu đen, không có lông, có tính co giãn. Mặt trong có lớp màng da ở giữa trong suốt, màu tro bạc, lớp màng da ở trong màu đỏ nâu. Trong cùng là chất xạ (xạ hương) ở dạng quánh đặc như sữa, khi khô thành bột hoặc thành hạt lổn nhổn với kích thước không đều, bóng, có mùi thơm hắc rất đặc biệt, để lâu không mất mùi.

Ở dạng bột, chất xạ màu vàng nâu, nâu đỏ hay đỏ tím, chất mềm có dầu. Lấy tay ve tròn, bột tụ lại nhưng không dính vào nhau thành khối. Khi mở tay ra, bột lại tả rời ngay. Ở dạng hạt (tốt hơn), hình tròn hay dẹt, phần lớn có màu đen tím, có vân mờ sáng bóng.
Xạ hương
Cách thử để phát hiện thật giả
Xạ hương nguyên chất có mùi thơm hắc rất mạnh, bền, pha loãng thì mùi trở nên dịu hơn và rất dễ chịu.

Lấy ít xạ hương cho vào bát nước nóng, thấy tan ngay, không có cặn, dung dịch có màu vàng nhạt, mùi thơm nồng nặc.

Cho xạ hương vào lửa thấy lách tách, lóe sáng, mùi thơm mạnh, sau để lại những nốt dầu trong.

Trộn với camphor, vilerian, tinh dầu tràm, acid hydrocyamic, xạ hương sẽ mất hết mùi đặc trưng của nó.

Mật gấu (hùng đởm)
Nhận dạng: túi mật có hình trứng dẹt, to nhỏ không đều, phần miệng thuôn nhỏ hẹp, phần đáy phình to, thường dài 10-20cm, rộng 5-8cm. Mặt ngoài nhẵn, màu nâu xám hoặc đen xám, có những nếp gấp còn bám lớp màng mỏng mỡ thịt. Khi soi túi ra ánh sáng, thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm. Nếu cắt mở túi, sẽ thấy nước mật khô gọi là “đởm nhân” ở dạng cục, khối, dạng hạt lổn nhổn hoặc dạng sánh đặc màu sẫm nhạt không đều, óng ánh, mùi thơm dịu.

Chất mật là thứ “đởm nhân” trong, phách, chất xốp giòn, vị đắng, sau ngọt gọi là “kim đởm”, “đồng đởm” hay “thiết đởm”. Thứ màu lục vàng, ít óng ánh, chất kém giòn là “thái hoa đởm”.

Dược liệu tốt là thứ túi to, “đởm nhân” màu vàng kim loại, óng ánh, vị đắng, sau ngọt; “đởm nhân” màu lục vàng, vị đắng, sau không thấy ngọt là loại kém.

Cách thử để phát hiện thật giả
Dùng phương pháp hóa học để phân lập acid ursodesoxycholic (chỉ có trong mật gấu), rồi thử các tính chất đặc trưng của acid này như độ chảy (202o), độ quay cực (+57o07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch acid ursodesoxycholic trong nước, đường và acid sulfuric đặc; xanh lục với dung dịch acid ursodesoxycholic trong chloroform, acetic anhydrid và acid sulfuric đặc.

Lấy ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan tỏa ra.

Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.

Nếm mật gấu lúc đầu thấy đắng, sau ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết, mùi thơm nhẹ và không tanh.

Đem mật gấu đốt lửa, không thấy cháy, chỉ thấy sủi bọt.

Sừng tê giác
Nhận dạng: dược liệu có hình chùy tròn, hoặc hơi có cạnh, đầu múp tẩy hoặc nhọn và hơi xiên, dài 20-25cm, mặt ngoài màu đen, nhạt dần về phía dưới. Đế sừng có răng cưa nhỏ gọi là “mã nha biên” lồi lõm không đều. Quanh mã nha ở phần giữa, có những vân dọc và gai cứng thẳng chưa gọt hết gọi là “cương mao”. Đầu sừng nhỏ, nhẵn bóng, mặt trước có một rãnh dọc, dài 12-16cm, dưới đó có một u lồi gọi là “địa cương” dài khoảng 8cm, cao 4cm. Đế sừng to, hình tròn dài, phía trước hẹp, phía sau rộng hình mai rùa, dài 16-24cm, rộng 12-16cm, màu xám đen hoặc nâu đen, nhạt dần ra phía ngoài thành nâu xám hoặc vàng xám, đáy lõm sâu khoảng 0,4-0,8cm, có nhiều chấm tròn dày đặc gọi là “sa-đê”, chất sừng cứng, rắn và nặng, thớ dọc đều. Không có thớ vặn. Phiến chẻ có màu trắng xám, điểm lấm tấm như hạt vừng hoặc có những đường chỉ nhỏ ngắn.

Loại sừng tốt có màu đen bóng, không nứt, sa-đê tròn to, mùi thơm nhẹ.
Tác giả: DS. CK2. Đỗ Huy Bích
Nguồn: www.suckhoedoisong.vn

DÙNG NHÂN SÂM VỚI MẬT ONG


Đây là cách sử dụng nhân sâm dưới dạng phối ngũ khá độc đáo mà nhiều người chưa được biết. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả có thể tham khảo và vận dụng.

Công thức 1: Nhân sâm 500g, mật ong 250g, nhân sâm thái vụn sắc kỹ 3 lần, sau đó bỏ bã, hòa với mật ong rồi cô đặc thành dạng cao đặc, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15g. Công dụng: diên niên ích thọ, rất thích hợp cho người già cần bồi bổ sức khỏe để kéo dài tuổi thọ.

Công thức 2: Nhân sâm 3g, mật ong 15g, nhân sâm thái vụn sắc kỹ lấy chừng 200ml (bã thuốc có thể nhai nuốt), sau đó cho mật ong vào hòa đều, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bổ khí đề tỉnh thần, tráng dương hưng dục, diên niên ích thọ, dùng làm thuốc bồi bổ cho những người suy nhược cơ thể, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục, xuất tinh sớm, di tinh...
Mật ong nguyên chất
Công thức 3: Nhân sâm tươi 30g, sữa bò 150g, lê tươi 500g, mật ong 120g. Nhân sâm thái vụn, sắc kỹ 3 lần, bỏ bã lấy nước cốt; lê gọt vỏ bỏ hạt, rửa sạch, ép lấy nước; đổ mật ong, sữa bò, nước lê và dịch chiết sâm vào nồi, cô bằng lửa nhỏ thành dạng cao đặc, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 20g. Công dụng: bổ khí dương âm, thanh phế nhuận táo, dùng đặc biệt tốt cho những người bị bệnh đường hô hấp thể Khí âm lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng mệt như mất sức, khó thở, dễ bị cảm mạo, hay vã mồ hôi, ho khan ít đờm, môi khô miệng khát, hoa mắt chóng mặt, hay có cảm giác sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, tai ù tai điếc, đại tiện táo...

Công thức 4: Nhân sâm 5g, hạnh đào nhân 50g, mật ong 300g. Nhân sâm thái vụn, hạnh đào nhân sao thơm tán vụn, hai thứ đem sắc thật kỹ lấy nước rồi hòa với mật ong, cô bằng lửa nhỏ thành dạng cao đặc, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g với nước ấm. Công dụng: bổ nguyên dương, làm đen râu tóc, phòng chống rụng tóc, chuyên dùng bồi bổ cho những người thể lực suy yếu, thị lực giảm sút, râu tóc sớm bạc, rụng tóc nhiều...

Công thức 5: Nhân sâm 100g, can khương 100g, cam thảo 150g, bạch truật 150g, phụ tử chế 100g, mật ong 650g. Các vị thuốc sấy khô, tán bột, luyện với mật ong thành viên hoàn, mỗi viên 7g, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên với nước ấm. Công dụng: đại bổ nguyên khí, ôn vị tán hàn, chuyên dùng bồi bổ và trị liệu cho những người bị bệnh lý dạ dày - đại tràng thuộc thể hư hàn, biểu hiện bằng các triệu chứng, mệt như mất sức, bụng lạnh đau âm ỉ, chườm nóng thì đỡ đau, buồn nôn và nôn ra nước trong, đại tiện lỏng nát, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt...

Công thức 6: Nhân sâm 30g, sinh địa tươi 320g, bạch linh 60g, mật ong 400g. Nhân sâm và bạch linh sấy khô tán bột, sinh địa rửa sạch, giã nát, ép lấy nước, sau đó cho tất cả vào nồi cô bằng lửa nhỏ thành dạng cao đặc, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g. Công dụng: tư âm nhuận phế, ích khí bổ tỳ, chuyên dùng để bồi bổ cho những người bị bệnh đường hô hấp, suy nhược thần kinh, thiểu năng tuần hoàn não, di tinh, liệt dương thuộc thể Khí âm lưỡng hư.

Công thức 7: Nhân sâm tươi (loại được bảo quản trong túi nilông đã hút chân không) 30g, mật ong lượng vừa đủ. Nhân sâm giã nát, ép lấy nước rồi hòa với mật ong, chia uống 2 lần trong ngày, bã có thể hãm với nước sôi uống thay trà. Công dụng: đại bổ nguyên khí, nhuận táo sinh tân, thường được dùng làm nước uống tăng lực cho những người có thể chất suy nhược. Công thức này cũng có thể gia thêm lê 1 quả, táo (loại to nhập từ Trung Quốc) 1 quả, cà rốt 1 củ, tất cả rửa sạch, ép lấy nước uống để làm đồ giải khát, tăng lực và cải thiện làn da cho phụ nữ.

Công thức 8: Nhân sâm 30g, bào thai hươu 1 bộ, bạch truật 30g, bạch linh 30g, cam thảo 30g, đương quy 30g, xuyên khung 30g, bạch thược 30g, thục địa 30g, mật ong lượng vừa đủ. Các vị thuốc đem sắc thật kỹ, lấy nước hòa với mật ong rồi cô thành dạng cao đặc, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20g. Công dụng: bổ ích khí huyết, điều kinh trợ thai, dùng làm thuốc để bồi bổ sức khỏe, đặc biệt tốt cho những phụ nữ muộn con do tử cung lạnh.

Nhân sâm có nhiều loại khác nhau tùy theo nơi khai thác, nguồn gốc địa lý và cách chế biến. Cho đến nay, sâm Triều Tiên (Cao Ly sâm) vẫn được coi là tốt hơn cả, trong đó hồng sâm (loại to nặng trên 37g, cắt bỏ rễ râu, chế biến sao tẩm với các phụ gia khác rồi đem chưng cách thủy, sấy khô và đóng vào hộp gỗ) là tuyệt vời nhất.
Tác giả: ThS. Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

HOA LỤC BÌNH CÓ TRỊ ĐƯỢC BỆNH

Lục bình thuộc họ cây đơn tử diệp, sống lâu năm, phát triển bằng chồi, thân và hạt. Lục bình sinh sản cực nhanh, chỉ cần 60-90 ngày một cây sẽ sinh ra 250.000 cây con. 
Hoa lục bình
Hoa lục bình gây cản trở giao thông thủy; còn thân, lá hút nước rất nhiều nên làm cạn kiệt ao hồ nhanh. Lục bình có rất nhiều ở miền Tây và miền Đông, gồm 2 loại: cọng to, cao 45cm, loại cọng nhỏ, thấp sát mặt nước, cao 12cm. Nở rộ hoa màu tím nhạt vào tháng 3-4 âm lịch.

Đọt non, tước ra làm dưa chua hoặc luộc chấm mắm ăn rất ngon. Có thể ăn với mắm sống kèm đọt lụa, sầu đâu và bông điên điển. Trong thân, lá lục bình có hàm lượng NPK với tỷ lệ 16-60-38 nên người chăn nuôi thường trộn với so đũa, cám làm thức ăn nuôi heo, gà, vịt. Trâu, bò cũng thích nhai lục bình. Rễ lục bình là chất phụ gia của nhà vườn các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang ủ làm phân bón cây, ốp gốc cây hoa và ốp vào nhánh già khi chiết cành. Một đặc điểm khác của lục bình là dùng thân phơi khô, kéo thành sợi ướp với keo dính, dệt thảm, giỏ xách và ghế thay mây, tre.

Về mặt y dược, các nhà nghiên cứu châu Âu phát hiện ra điều kỳ lạ, rễ lục bình giúp dưỡng khí dồi dào cho ấu trùng muỗi sống trong nước lớn nhanh, nên mật độ sinh sản tăng trưởng cao, đáng quan ngại cho sức khỏe con người. Thế nhưng lá, hoa, thân và quả của lục bình lại là vị thuốc hiệu quả cao đối với người loãng xương và trẻ gầy còm. Lá lục bình hút thán khí với tỷ lệ cao giúp làm sạch môi trường. Thân cây lục bình dùng ăn sống, là vị thuốc trị giun, sán ở đường ruột trẻ em và người cao tuổi, hiệu quả không thua kém hạt bí ngô và lá sầu đâu”.
Tác giả: Lương y Dương Tấn Hưng 
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

THUỐC TRỊ MÙI MỒ HÔI


Dưới đây là “bí kíp linh dược” từ cây, quả, hạt, củ trị “mùi uế khí”:

Thuốc bôi chữa “hồ xú uế” (hôi nách)

• Thân, rễ gừng gió 20gr, 4gr hột long não. Gừng để nguyên vỏ (rửa sạch), xắt lát mỏng, sao cháy vàng, trộn với 1 viên long não, tán nhuyễn, xoa vào nách sáng, trưa, tối. Sau 3 ngày sẽ dứt.

• 3 lá trầu không, 10gr vôi ăn trầu, 50gr lá, búp non sa nhân (mua ở hiệu đông y). Rửa sạch cả 3, tán nhuyễn với vôi, thoa 3 lần/ngày. Sau 5 ngày sẽ kết quả.

• Hạt long nhãn khô 40gr, 40gr phèn chua giã nhuyễn thành bột, xoa trước khi tắm, ngủ, tắm sáng (trước giờ đi làm) khoảng 10 phút.

• 15 hạt nhãn khô, 50 hạt tiêu sọ giã nát, thoa ở nách trước lúc đi làm, tối trước lúc ngủ 10 phút.

Thuốc khử hôi miệng

45gr vỏ quýt (phơi 5 ngày nắng), ruột hạt bí đao 40gr, bạch chỉ 50gr, cảo bản 30gr, đương quy 30gr, quế tâm 30gr, tế tâm 30gr. Sao vàng, tán bột, trộn đều. Tối, sáng uống trước lúc ngủ và điểm tâm. Mỗi lần uống 2 muỗng canh với 20ml nước nguội. Sau 10 ngày miệng sẽ “tịch uế”, tỏa hương khẩu.

Ngoài ra, theo sách “Ngoại đài Nam dược bí yếu”, miệng hôi, nách hôi và kể cả thân thể đều do nội tạng tỳ, vị, đại tràng, gan, mật không điều hòa khí huyết, tiêu hóa, ăn ngủ kém, ưu phiền. Muốn trị dứt, chỉ cần sử dụng “ngũ hương hoàn” từ dược thảo như sau: Đậu chiều 20gr, đinh hương 20gr, hoắc hương 30gr, mộc hương 30gr, quế chi 20gr, hương phụ (củ gấu hoặc cỏ cú) 60gr, đương quy 20gr, tùng hương 15gr, hạt cau khô 10gr. Sao khử thổ vàng, tán nhuyễn, trộn với 30gr mật ong, vo viên cỡ 1-2gr, ngày ngậm 3 viên, tối 2 viên. Liên tục 7 ngày sẽ giúp miệng hết mùi.

Tác giả: Lương y Dương Tấn Hưng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

XOA BÓP THẾ NÀO HIỆU QUẢ

Từ lâu, giới đông y học cổ truyền vẫn khuyến khích con người nên dưỡng sinh bằng xoa bóp huyệt đạo trên thân thể để đề phòng và chữa bệnh. Biện pháp này có thể thực hiện được mọi lúc, mọi nơi, không những có tác dụng giảm đau mà còn hồi phục sức khỏe khá nhanh.

Xoa bóp giảm đau
Cách xoa bóp rất phong phú, được phân loại qua tác dụng trực tiếp trên da thông qua các phương cách: xoa, xát, nắn, chém, chặt, và vuốt. Tuy nhiên, khi thao tác tay, ngón tay ở mỗi vị trí đều cần nhẹ, tác động đúng huyệt đạo trên cơ thể mới đem lại sự thư giãn thần kinh và làm việc hiệu quả.

Nguyên tắc
Xoa bóp tụ hội các động tác gồm: dùng ngón cái day tại huyệt, ấn bóp, xoa bằng bàn tay. Tuy nhiên. Không ấn, day quá 2 giây tại một điểm. Kết thúc một bài xoa bóp nên vỗ nhẹ từ 5-10 lần ở vùng đã xoa bóp, để tế bào ổn định.

Thời gian khởi động xoa bóp thư giãn hay chữa bệnh đều đi theo thứ tự nhẹ nhàng đến tăng dần nhịp độ và mức độ. Mỗi lần xoa lâu nhất 20-25 phút, nhưng ngắn quá (dưới 15 phút) sẽ không hiệu quả. Theo Bí quyết kiện lực thọ khang của Hội liên hiệp Đông Y Sư Hoa Nam và Nam Kinh, để tự luyện tập kiện toàn nhân lực và sống khỏe, mỗi ngày cần nên xoa bóp đều các huyệt đạo thuộc 10 vị trí trên cơ thể. Vị trí cụ thể là mặt, mắt, tai, mũi, miệng, cổ (trước và sau), ngực (kinh mạch tiếp cận phổi), tay (lòng bàn tay, mu bàn tay và các ngón), thắt lưng (sau lưng giữa 2 nuột lưng) và chân (gan lòng bàn chân, đầu các ngón và khớp gối).

Để việc xoa bóp dưỡng sinh đạt kết quả như ý, trong mọi độ tuổi, cần tránh áp dụng cách xoa bóp không đúng phương pháp và không đúng trình tự huyệt đạo dễ dẫn đến lợi bất cập hại. Nguyên nhân là, việc xoa bóp sẽ tác dụng trực tiếp lên huyệt đạo, giúp làm giãn cơ bị co cứng, giãn mạch máu chống viêm, giảm phù nề, mang oxy tới tế bào, giải phóng các chất thải, cặn bã trong máu. Cuối cùng là thư giãn, giúp cơ thể hưng phấn. Nhờ các huyệt bị tác động, giúp vận hành kinh mạch máu lưu thông điều hòa.

Các bước tiến hành
Dưới đây là 10 vị trí xoa bóp:

Mắt (thị giác) các huyệt xung quanh mắt: tinh minh huyệt, tu túc không và đồng tử giao.

Tai (thính giác, nhưng liên hệ đến hầu hết các bộ phận trên cơ thể) có đến 10 huyệt, xoa hai tay nóng bịt lên 2 tai, chà xát mạnh.

Mũi (khứu giác) gồm các huyệt tiểu nghinh hương, tỷ thông và nghinh hương, xoa 2 bên mép mũi từ trên xuống và ngược lên tới khóe mắt.

Miệng gồm môi, răng: huyệt thừa hương, hòa giao (dùng 2 ngón giữa và trỏ xoa qua lại 2 môi).

Mặt: nhiều huyệt đạo ở hai bên má gồm thừa khấp, tứ môn, thần giao, quan giao, địa thực, và đại nghinh. Cần miết mạnh đầu ngón tay từ mép sóng mũi đến mép tay.

Cổ: có đến 12 kinh mạch, các huyệt hệ trọng là đảm kinh, thủ thiếu dương, bàng quang kinh, tam tiêu kinh, túc thái dương.

Ngực: xoa nguyên bàn tay từ vú xuống bụng dưới, theo vòng tròn. Giúp phổi, gan, thận, dạ dày, ruột vận hành, thông khí.

Tay: ma sát hai lòng bàn tay thật nóng, vuốt ra các ngón, vào tận khuỷu tay.

Thắt lưng: có nhiều huyệt đạo thần kinh, quan trọng là mạng môn, dương quan, luyến khu.

Chân: có huyệt túc lâm lư cách nắp xương đầu gối 25 cm và xương bánh chè gối, đây là xuất xứ đau khớp xương, cần xoa bóp kỹ.

Tác giả: Lương y Dương Tấn Hưng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

QUÝT VÀ BÊNH UNG THƯ


Quýt và chuối: Phòng ung thư máu
Kết quả của một nghiên cứu quy mô với sự tham gia của hàng ngàn em nhỏ ở các nước châu Âu và châu Á cho thấy: Tỉ lệ trẻ dưới 2 tuổi được cho ăn quýt, chuối hoặc uống nước quýt 4 - 6 lần/tuần mắc bệnh ung thư máu là rất thấp so với các trẻ khác (50%). Theo bà Mary, chuyên gia về bệnh học, ĐH California (Mỹ), giải thích: “Trong quýt và chuối có hàm chứa lượng Vitamin C phong phú và đó là vi chất quan trọng giúp phòng chống bệnh tật”.

Chuối
Còn các nhà khoa học của TT Y học, trường ĐH Chicago (Mỹ) thì phát hiện ra nghệ vàng cũng có tác dụng phòng chống ung thư máu và một số bệnh ung thư khác. Ở những nước phương Tây, tỉ lệ trẻ em mắc bệnh máu trắng là 1: 100.000 nhưng trẻ em mắc bệnh máu trắng ở Ấn Độ chỉ là 1/10 của con số này.

Nấm: Chống hiện tượng di căn
Các chuyên gia nghiên cứu Nhật Bản phát hiện ra rằng: Glucosan -b có tác dụng ngăn chặn tế bào ung thư di căn. Và vi chất này có rất nhiều trong nấm.

Thử nghiệm cho thấy việc uống chiết xuất Glucosan-b sẽ giúp ung thư tuyến tụy không di căn xuống gan, các khối u ác tính cũng nhỏ đi trông thấy. Theo các nhà khoa học, chất Glucosan -b đã giúp nâng cao khả năng miễn dịch.
Tác giả: Dương Hằng
Nguồn: Dân trí

BỒ CÂU NON HẦM HẠT TƠ HỒNG TRỊ BỆNH

Thức ăn chữa bệnh phần lớn là dùng loại bổ thận, ôn âm, bổ hư ích khí, bổ thận tráng dương… Dưới đây là một số món ăn có tác dụng điều trị chứng âm lãnh theo sự hướng dẫn của lương y Quốc Trung.
Thạch hộc, Ba kích - Ảnh: H.Mai
Gà trống hầm gừng khô, bột hàu
+ Nguyên liệu: Một con gà trống tơ độ 1 kg, 15g gừng khô, 4g muối, 15g bột hàu (mẫu lệ), cùng các gia vị bột ngọt, tiêu bột, hành, 10 ml rượu mùi, chừng 2 lít nước.

+ Chế biến: Gừng cắt lát, hàu nung giòn rồi nghiền thành bột, gà làm thịt, bỏ nội tạng và chân, gừng đập dập, hành cắt khúc… Cho gừng khô, bột hàu, thịt gà, hành, rượu, nước dùng vào nồi, đun đến sôi rồi hạ nhỏ lửa hầm tiếp 45 phút nữa, nêm nếm gia vị vừa miệng. Mỗi ngày dùng một lần, ăn cùng bữa cơm.

Mì nấu cật dê
+ Nguyên liệu: 2 cái cật dê, 200g mì sợi, 20g nhục dung, 25g mỡ dê, 3g vỏ quýt, 6g tất bạc, 1 quả táo tây, 4g gừng, 6 ml rượu mùi, tiêu bột, bột ngọt, hành.

+ Chế biến: Các vị thuốc trên sau khi sơ chế, rửa sạch, cho vào nửa lít nước, nấu 30 phút, gạn lấy nước. Cật dê rửa sạch, bổ đôi, cắt bỏ màng hôi, cắt lát 3 cm. Gừng cắt lát, hành cắt khúc. Cho cật dê, gừng, hành, rượu, nước thuốc, nước dùng vào nồi, đun đến sôi rồi hạ nhỏ lửa hầm tiếp 30 phút, nêm nếm gia vị, rồi cho mì vào nấu đến chín. Mỗi ngày dùng một lần, có thể ăn thay bữa ăn chính.

Bồ câu non hầm hạt tơ hồng
+ Nguyên liệu: Một con bồ câu non, 20g hạt tơ hồng (thỏ ty tử), 10 ml rượu mùi, 15g rau thì là, 5g gừng, cùng các gia vị.

+ Chế biến: Các vị thuốc trên sau khi sơ chế, rửa sạch, cho vào 500 ml nước, nấu 30 phút, sau đó bỏ xác, lấy nước. Cho bồ câu, nước thuốc, gừng, hành, rượu vào nồi, và thêm 200 ml nước nấu đến sôi rồi hạ nhỏ lửa hầm thêm 30 phút. Dùng cái và nước, ngày 1 lần.

Thịt chó hầm nhục thung dung, ba kích
+ Nguyên liệu: 1/2 kg thịt chó, cùng các vị thuốc: nhục thung dung, củ mài, sơn dù thu (mỗi loại 20g), ba kích, hạt tơ hồng, bổ cốt chỉ, thạch hộc, hồ lô ba (mỗi loại 15g), phụ tử đã bào chế 10g, và 10 ml rượu mùi, một ít rau thì là, cùng bột ngọt, tiêu bột, muối, gừng, hành.

+ Chế biến: Các vị thuốc trên sau khi sơ chế, rửa sạch, cho vào túi vải sạch, buộc chặt miệng túi; thịt chó rửa sạch, cắt miếng vuông vừa miệng; gừng đập dập, hành cắt khúc. Cho thịt chó, túi thuốc, gừng, hành, rượu, nước vào nồi, đun sôi rồi hạ nhỏ lửa hầm trong 1 giờ, nêm nếm gia vị và trộn đều. Mỗi ngày dùng một lần, ăn cùng với bữa cơm.
Tác giả: Hạ Mai
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

HOA NHÀI TRỊ VIÊM KẾT MẠC

Hoa nhài vị ngọt cay, tính nóng, không độc, có thể trừ hư hỏa, khử hàn tích, trị mụn nhọt, tiêu ung bướu, làm hết đau. Nước cất hoa nhài có thể làm tươi nhuận da thịt. Lá hoa nhài vị cay, tính mát, chủ yếu thanh nhiệt giải biểu, trị ngoại cảm phát sốt, đầy bụng, tiêu chảy. Liều lượng: 3-6g, nấu uống. Rễ hoa nhài vị đắng, tính ấm, có độc, chủ trị té ngã chấn thương gân xương, đau nhức đỉnh đầu, mất ngủ. Rễ hoa nhài có tác dụng gây mê, giã nát đắp để nối xương, nạn nhân không thấy đau.
Hoa nhài
Một số bài thuốc
Chữa chứng viêm kết mạc: Hoa nhài tươi 5g, lá dâu bánh tẻ 10g, dùng 100ml nước nấu sôi sau đó xông vào mắt. Khi nước nguội thì lọc lấy nước bỏ bã, dùng bông sạch thấm nước này thường xuyên rửa mắt.

Chữa chứng biếng ăn: Hoa nhài 5g, hoa đậu ván 30g, gạo tẻ 50g. Gạo tẻ vo kỹ, nấu thành cháo, khi cháo chín, cho hoa nhài và hoa đậu ván vào nấu sôi kỹ, khi cháo còn âm ấm ngày ăn 1 lần.

Chữa chứng đau tức ở mạng sườn và thượng vị: Hoa nhài 5g, đinh hương 3g, hoàng tửu 50ml. Cho hoa nhài và đinh hương vào hoàng tửu, nấu cách thủy cho chín nhừ, để còn âm ấm, uống nước bỏ bã.

Chữa chứng lỵ: Hoa nhài, hoa râm bụt trắng (bạch cẩn) mỗi thứ 5g, gạo tẻ 50g. Gạo tẻ vo kỹ nấu cháo, khi cháo chín, cho hoa nhài và hoa râm bụt trắng vào nấu tới khi hoa chín nhừ, thêm vào 1 chút đường, đợi còn âm ấm thì ăn.

Chữa chứng mai hạch khí: Mai hạch khí là chứng ở trong cuống họng bị vướng như ngậm hạt mơ, khạc không ra, nuốt không xuống rất khó chịu, đó là do mừng giận quá độ, nhiệt khí nung nấu, tích tụ lại và có đờm uất kết mà sinh ra. Để chữa chứng này, dùng 1 trong 2 phương thuốc sau:

Phương 1: Hoa nhài 5g, trà xanh 100g. Trộn đều hoa nhài và trà xanh với nhau là trà hoa nhài, hãm trà này uống thường xuyên.

Phương 2: Hoa nhài 5g, trái quất khô 10g, gạo tẻ 100g. Gạo tẻ vo kỹ nấu cháo, khi cháo sôi già, nghiền nát trái quất khô cho vào nồi cháo, nấu tiếp tới khi quất đã chín nhừ thì vò nát hoa nhài bỏ vào cháo, đợi cháo bớt nóng thì dùng (lưu ý: nếu không có quất khô thì thay bằng mứt quất, nhưng lượng gấp đôi).

Chữa chứng mồ hôi nặng mùi: Người chẳng may mắc chứng mồ hôi nặng mùi dễ gây khó chịu cho người chung quanh, không có lợi trong giap tiếp. Để chữa chứng này, dùng 1 trong 2 cách sau:

Cách 1: Lấy 15 bông hoa nhài cho vào chậu nước ấm để tắm.

Cách 2: Hoa nhài 10g, bạch chỉ 15g, nghiền thành bột, cho vào cái túi vải mỏng đeo bên người.
Tác giả: Quang Nghĩa
Nguồn: Tintuconline

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

LÀM SAO GIẢM BÉO PHÌ

Béo phì được phân ra hai loại chính: Béo phì đơn thuần (simple obesity) và béo phì bệnh lý (pathological obesity). Béo phì thông thường chủ yếu do năng lượng hấp thụ vào cơ thể vượt quá mức năng lượng tiêu hao gây nên.

Ăn quá nhiều, thừa chất dẫn đến béo phì
Thông thường, khi chỉ số BMI vượt quá 30, đã loại trừ béo phì do một số bệnh nội tiết như Hội chứng Cushing (lượng hoóc môn cortisosteroid trong cơ thể quá cao), suy tuyến giáp trạng, buồng trứng đa nang... thì đó là béo phì đơn thuần.

Ngoài ra, bệnh còn được chia thành béo phì thể chất (do di truyền) và béo phì mắc phải (do sinh hoạt và ăn uống không hợp lý).

Trong Đông y, béo phì đơn thuần, mắc phải thuộc phạm vi của các chứng đàm ẩm, thủy thũng và hư lao. Béo phì là chứng bệnh thuộc loại hình "gốc hư ngọn thực", nghĩa là người to béo trong khi cơ thể suy yếu, hoạt động của tạng phủ bị rối loạn. Nguyên nhân thường là: chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứ đọng; dạ dày nóng, chức năng tiêu hóa hấp thụ suy yếu; âm dương mất cân bằng.

Thực tế lâm sàng cho thấy, để chữa khỏi chứng bệnh béo phì, đối với mỗi người cần có phép chữa và bài thuốc thích hợp. Không thể sử dụng một loại thuốc giảm béo cho tất cả mọi người.

Những người béo phì đơn thuần, mắc phải có thể căn cứ vào những biểu hiện của bản thân mà chọn dùng một trong các bài thuốc dưới đây:

Bổ khí hóa đàm thang

Phòng kỷ, bạch truật, sơn tra (sao cháy), đẳng sâm mỗi thứ 12 g; hoàng kỳ, phục linh mỗi thứ 15 g; trư linh, bán hạ, lá sen mỗi thứ 9 g, trần bì 6 g. Nấu với 1.500 ml nước, còn 600 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục 20 ngày, nghỉ 5 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác. Thường sau 1 liệu trình bắt đầu có chuyển biến.

Bài thuốc này dùng cho người béo phì thuộc loại hình “Khí hư đàm tích” (chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứ đọng). Thể bệnh này hay gặp ở sau độ tuổi trung niên, chức năng tiêu hóa và hô hấp đã suy giảm, khiến cho “đàm trọc” (sản vật bệnh lý, mỡ dư thừa) tích đọng lại, thành ra béo phì.

Biểu hiện: Người béo phì, hễ hoạt động là thở hụt hơi, vã mồ hôi, da nhợt nhạt, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, thích ngủ, kém ăn, bụng ngực trướng đầy, đại tiện phân nhão hoặc tiêu chảy, thân thể nặng nề hoặc phù thũng; chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng.

Lợi thấp hóa đàm thang

Trần bì (vỏ quít để lâu ngày) 10 g, bán hạ 8 g, phục linh 16 g, xương bồ 8 g, viễn chí 6 g, trạch tả 12 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 20 g. Sắc uống thay nước trong ngày, liên tục 20 ngày, nghỉ 5 ngày lại tiếp tục liệu trình khác.

Bài thuốc áp dụng cho trường hợp béo phì thuộc loại hình “Đàm nhiệt tích trệ”, hay gặp ở những người ăn nhiều đồ béo ngọt, uống nhiều rượu.
Biểu hiện: Thân hình to béo, người nặng nề đuối sức, có thể kèm theo đầu choáng, mắt hoa, ngực đầy tức, ngột ngạt khó chịu; phụ nữ bế kinh hoặc không thụ thai được, rêu lưỡi nhớt hoặc vàng nhớt. 

Thanh vị thông phủ thang

Đại hoàng, bán hạ, thần khúc mỗi thứ 8 g; chỉ thực, trạch tả, sơn tra mỗi thứ 12 g; mạch nha 10 g, phục linh 16 g, kê nội kim 6 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng trừ hỏa nhiệt ở phủ vị - dạ dày, kiện tỳ, trừ đàm thấp, chữa béo phì thuộc loại hình “vị nhiệt tỳ hư” (dạ dày nóng, chức năng tiêu hóa hấp thụ suy yếu). Dạng bệnh này hay gặp ở thanh thiếu niên, phụ nữ có mang hoặc phát phì sau khi sinh đẻ.
Biểu hiện: Ăn nhiều, mau đói, miệng khát, uống nước nhiều, thân hình béo phì, mặt đỏ tươi, tinh thần sung mãn, đại tiện bí kết, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng.

Thanh nhiệt hóa đàm thang

Hoàng liên 3 g, hoàng cầm, hậu phác, bán hạ, sơn chi tử mỗi thứ 9 g, thạch cao 15 g (sắc trước 30 phút), đại hoàng 5 g (cho vào sau, trước khi bắc thuốc ra 5 phút), cam thảo 5 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, làm tan đờm, chữa béo phì thể “đàm nhiệt nội trở”.

Biểu hiện: Người béo phì, da mặt bóng loáng như bôi mỡ, ăn rất khỏe, mau đói, sợ nóng, phiền táo, miệng đắng, họng khô, tiểu tiện vàng sẻn hoặc đại tiện bí kết. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng.

Hóa tích thang
Đan sâm, xích thược mỗi thứ 15 g; đào nhân, lai phục tử, lá sen, hồng hoa, xuyên khung, diên hồ sách mỗi thứ 9 g, thanh bì 6 g, trạch lan, trạch tả, phục linh mỗi thứ 12 g. Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày.

Bài thuốc có tác dụng chữa béo phì thuộc loại hình “đàm ứ nội tích”.
Biểu hiện: Người béo phì, hoạt động một chút là mệt mỏi, thở dốc, dễ ra mồ hôi, đầu choáng váng, ngực bụng trướng đầy, mạng sườn căng tức, đau hoặc nổi cục; chất lưỡi tối bệu, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc nhớt.
Tác giả: Lương y Huyên Thảo
Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống